vơ công liêm

 

NGỮ NGÔN CỦA THI CA

                                               Poetry is made of not-words (Karl Shapiro)*

 

             Đôi khi mượn chữ thay lời đấy là ‘nẻo về của ư’ thường dành cho thi ca. Rất ít người qua mọi lứa tuổi dùng chữ làm tiếng nói riêng ḿnh mà là cốt để giới hạn những ǵ thuộc về tự sự ở chính ḿnh, nhưng; đứng trên phương diện thi ca nó có một cái ǵ cách riêng độc đáo thời mới thành h́nh thơ; cái đó gọi là ngữ ngôn của thi ca –The language of poetry; nghĩa là ẩn tàng một ư tứ sâu xa như thể mượn chữ thay lời –Something about words. Mặc khác; thi nhân cố đặt một sự thông đạt ở chính nó qua ngữ ngôn bằng một cách khác hay một suy nghĩ khác. Điều này tuồng như người ta đă nhận ra. Mỗi khi xuất thần là đưa tới cái lạ lùng từ ư và lời; gieo vào đó một thứ ngữ ngôn đặc biệt, lạ đời của thi tứ, có khi bí tỉ cần phải sưu tra chữ nghĩa qua tự vị (dictionary). Việc này thi nhân đă cố tạo cho ngữ ngôn thi ca có một vóc dáng riêng biệt nghĩa là không ảnh hưởng vào một h́nh thức nào hoặc phải đi qua một ước lệ khác mà tất cả ngữ ngôn chất chứa ở đó tính sáng tạo hoặc lập nên ‘trường phái’ thi ca một cách siêu lư hơn.


Nhưng; đánh giá nó phải là thứ thi ca đặc thù mới để đời bằng không chỉ là chuyện ‘mừng thơ’; họa chăng tùy hứng (spontaneous) mà thành thơ. Sự đó không c̣n gọi là cảm xúc của thơ. Âu cũng là chuyện thường xẫy ra ở đời này. Charles Bukowski nói: ‘Thượng đế đă sinh ra rất nhiều nhà thơ nhưng lại rất ít thơ’. Nhiều thi nhân làm thơ suốt cả cuộc đời, hằng giờ, hằng ngày, hằng tháng có khi quên ḿnh là nhà sản xuất thơ. Nếu được gọi là thơ-vô-nghĩa -nonsense poetry- th́ may ra. Một số văn thi sĩ làm thơ và đẻ chữ…có những bài thơ dài hoặc ngắn, chủ đề và nội dung không có tính thi ca (qua mọi trường phái khác nhau) mà tuồng như dụng ngôn để ‘vọc’ thơ hay muốn tạo một sắc thái khác cho thơ?


Vậy th́ chữ nghĩa của thi ca là ǵ? What is the words of poetry? -Thi ca là thứ văn chương phi ngă, phi lư, phi thực nó ở cơi ngoài của vũ trụ (universal) c̣n gọi là cơi phi, một ngữ ngôn cách riêng gần như một thứ tàng cổ viện –Poetry is as universal as language and almost as ancient. Người tiền sử đă biết dùng thơ để phơi mở cảm thức riêng, người ngày nay đă dân hóa như một thứ chữ nghĩa có học thức (cultivated). Thơ là hồn; nó nằm ở cơi vô thức, ch́m sâu trong tiềm thức tợ như chờ đợi hay bung phá để phát tiết theo cảm xúc riêng tư. Thơ ở khắp mọi nơi, từ già tới trẻ, từ quê ra tỉnh ngay cả trẻ sơ sinh đă nh́n bằng đôi mắt mộng mơ của ‘thi ca’; gần như đây là thứ văn chương dùng cho ngữ ngôn của thi ca –This is the literary use of language, for literature is not only an aid to living but a means of living…trợ vào đời nhưng đúng nghĩa của cuộc đời mà mỗi khi thi nhân gia nhập vào nguồn thơ cho thơ được sống.


Chúng ta hăy nh́n lên những ǵ nó nằm trong chữ nghĩa để rồi người ta mới dựng vào đó một văn phong của từ ngữ (vocabulary). Từ chỗ đó người đọc t́m thấy nghĩa lư về chữ và nghĩa mà thi nhân vận vào. Đặc chất của chữ nghĩa không phải giản đơn của từ ngữ trong thi ca nhưng từ ngữ thường nằm trong bất cứ ngữ cảnh (context of) của thơ. Thơ hay là làm ra từ một suy tư cân nhắc và cảm xúc mănh liệt nhất; đó là cốt tủy để thành h́nh chất thơ mà là phẩm chất có thể coi như quan sát về h́nh thái của linh hồn và cũng là sức mạnh của tiếng nói. Điều chú ư là ngữ ngôn thi ca được đánh giá một cách khác biệt của chữ nghĩa mà tự vị định nghĩa rơ nét về nghĩa lư của nó. V́ rằng; ngữ ngôn của thi ca đă được định nghĩa như thể loại của tiếng nói; sự đó được coi là tiếng nói đa dạng, đa thức trong từng con chữ (words) và tỏ rơ nhiều cảm xúc hơn những thứ ngữ ngôn thông thường. Trong tinh thần của tiếng nói thơ là được hiểu một cách trọn vẹn và đầy đủ, nhận thức nghĩa lư của nó tức đạt tới chân tướng của thơ, là những ǵ chúng ta cần hiểu là những ǵ mà thi ca đă nói ra –we need to understand what it is that poetry ‘say’. Tiếng nói đó hoàn toàn khác biệt so với mọi thứ khác. Hiện hữu của thi ca là mang lại cho chúng ta một cảm thức sâu lắng và một nhận thức về ư nghĩa của cuộc đời, rộng mở và sắc bén đối diện với hiện thể. Chúng ta cần có cái bên trong của chúng ta để được sống đầy đủ và sâu đậm với một nhận thức lớn lao nhất –We all have an inner need to live more deeply and fully and with greater awareness. Mặc khác; để được nh́n thấy qua kinh nghiệm của người khác. Nhớ cho; ngữ ngôn của thi ca là thứ văn chương dùng như lời nói, là phản ảnh tính trung thực của thi nhân. Có một vài vấn đề đích thực về thơ như sau:

1.Một chữ là một cảm nhận / A word is a feeling: là ấn tượng về nghĩa lư / meaning hoặc cho đây là một minh định tự vị / dictionary definition .Thí dụ: sâm-cầm là chim, loài chim khác chim-di thời phải hiểu đó là chim không cần phải nói chim sâm-cầm hay chim chim-di: ‘sâm cầm đâu nữa người xưa’ (Khuyết danh) hay ‘những bước chim di’ (ư nhạc TCS). Thi ca là biểu tượng; nói theo kiểu b́nh dân học vụ ‘dương đông kích tây’ là ư nghĩa thâm hậu của thi ca. Đôi khi chữ lồng nghĩa, nghĩa lồng chữ. Đa dạng, bởi; thơ là dạng vô-thức (unconsciousness) vừa là vô-thể (bodilessness). Nó sống trong mơ hồ và trừu tượng của trạng thái tâm linh (vui buồn lẫn lộn) (K. Jung). Đấy là cảm nhận ngữ ngôn qua thi ca. Thơ là ‘thép đă tôi thế đấy’(N. Ostrovsky). Thành ra thơ là thứ ngữ ngôn để chiêm nghiệm hơn là h́nh dung từ.


2.Một chữ bao gồm cả thể xác / A word involves the whole body: tuy rằng cách biệt nhau nhưng giữa hồn và xác là một hay nói cho ra lư: thơ tức là người thời mới có văn chương b́nh dân, văn chương bác học; con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Cùng con thằn lằn mà con thằn lằn nhà tranh khác con thằn lằn nhà ngói (màu da) là ở chỗ đó. Thơ là phần đặc biệt trong cảm thức, một thứ ngữ ngôn phô diễn giữa nội quan và ngoại quan giao thoa trong một ư thức của con người; nó có một lư giải thuộc về thân tâm, dính dáng tới ‘âm thanh và cuồng nộ’ trong cùng một âm vang / sounding. Ngữ ngôn đó là một phần riêng biệt thuộc về cá thể. Là một tỏ rơ của phấn khởi / elate và tiếng rạo rực con tim / thud ; đă được gói ghém trong thơ, nhờ đó mới gọi là hồn thơ để thơ không lạc đường ngôi. Cho nên chi thơ là thứ ngữ ngôn muôn màu, muôn sắc. Đôi khi đọc thơ thấy luôn cả h́nh vóc ‘mặt sao ngao vậy’ là thế (!).

3. Một chữ là một lịch sử / A word is a history: Cứ lấy ở Nguyễn Du, Nguyễn Trăi, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát hay Hồ Xuân Hương… th́ rơ tấm ḷng tiết tháo của họ, là dấu hiệu để đi vào lịch sử như chứng cớ của người anh hùng, bởi; họ đă ḥa nhập giữa đời và đạo trong cùng một hiện thể của tâm hồn, mà tâm hồn vốn đă chất chứa những ǵ khơi dậy của thi ca. Tiếng nói có chết nhưng lời thơ thường là bất tử vô biên –Language die but words tend to be immortal. Những ǵ đến rồi đi đều để lại dấu ấn trong đời. Và; mỗi lần như thế là đă lập nên một điều ǵ bất dịch. Trong mỗi chữ thơ có thể có nhiều nghĩa khác nhau và đă lư giải ra muôn ngàn phương cách; chữ nghĩa là tư tưởng phát tiết đă in sâu trong ḷng người, du nhập vào ngữ ngôn của thế giới ngày nay -world’s present-day-languages-. Thi ca không riêng tư mà là đặc-thù qua ngữ ngôn; thi ca đi vào lịch sử của văn chương. Văn Miếu Quốc Tử Giám, Đền Hùng, Lăng tẩm, Mô bia trở thành những tảng đá ngàn xưa để lại. Cái đó có một độ bền dài lâu dù ở dưới mái hiên nhà trong giai đoạn cổ xưa của những triều đại khác nhau: Đinh Lê Lư Trần Lê Nguyễn; dẫu có điêu tàn; nhưng tiếng nói của thi ca vẫn c̣n vang vọng để được sống c̣n cho tới giờ đây.

4. Một chữ là một h́nh ảnh / A word is a pictue: Cái từ ‘hoa cúc/daisy’ là tỏ chung cho những loài hoa và giấu ở đó thứ ánh sáng hết sức dịu dàng (lightly conceals); cảm thức đó là gốc rễ h́nh ảnh (root picture) và; gợi lên tiếng nói bên trong của hoa và của người là một. Cảm nhận đó sớm muộn ǵ cũng là h́nh ảnh của âm vang, thứ h́nh ảnh đứng sau của ngữ ngôn thi ca : ‘Áo nàng vàng ta về yêu hoa cúc’ / ‘Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường’ (Tuổi Mười Ba của Nguyên Sa) là h́nh ảnh của tượng h́nh mà thi nhân chụp được –As soon as one takes into account this picture behind the word. Nghe đơn giản như có một sự đồng t́nh trong đó. Lời bày tỏ có khi đến rồi đi cho một chân dung của người đẹp : ‘Đứng im ngoài hàng dậu / Em nở nụ nhiệm mầu / Lặng nh́n em kinh ngạc / Ta lắng nghe em hát / Lời ca em thiên thâu / Ta sụp lạy cúi đầu’ (Thược Dược của Quách Thoại) mà thi nhân thiết tha và hoài niệm. Hầu như thi sĩ thường cuộn ḿnh vào h́nh ảnh giữa người và thiên nhiên ở trong thơ; kín đáo hay bày tỏ là ấn tượng hóa của một mơ về (dreaming-day/rever) mà trong cuộc đời đă và đang sống. Cho nên chi lấy thiên nhiên và cảnh vật là biểu trưng của t́nh yêu, một thứ nuôi t́nh và chơi t́nh trong tận đáy tâm hồn để rồi phải ‘hụp lạy cúi đầu’ hay ‘áo nàng vàng ta về yêu hoa cúc’ cho mơ trở thành thực. Lăng mạn của thơ chính là cái lăng mạn ‘hiếp dâm bằng mắt’ của người thi sĩ. Thi nhân ngẩn ngơ, thi nhân lập dị, thi nhân quái gở là ‘típ’ người thường giấu sau đó một h́nh ảnh của mộng mơ mà sự thể trong đó là nói lên một yêu sách khác / one thing in it requires another .Vậy th́; mỗi chữ thơ là mỗi h́nh ảnh của t́nh yêu mà thi nhân muốn chiếm cứ bất luận dưới dạng thức nào của ngữ ngôn; thi sĩ mượn ngoại giới để thi vị hóa tâm hồn; ngoài ra tiếp nhận một phương thức hoang đường để so sánh cho một ư tứ giàu tưởng tượng để câu thơ trở nên giàu ngữ điệu và đưa tới niềm tin trong thơ; có khi là lời bày tỏ trực tiếp, tạo một vóc dáng đặc biệt hơn. Theo S. Freud: việc làm thơ th́ tất cả t́m thấy một sự củng cố và một giá trị có hiệu lực của thời kỳ hậu-hiện-đại thi ca –all these find a confirmation and in premises of post-modern-poetry .(Trong: Interpretation and Definition of Mythology and Poetry by Sigmund Freud).


Cho nên chi không lạ cho những ǵ thuộc đối tượng thi ca nhất là ngữ ngôn của thi ca nói lên cái đẹp.

Để lư giải gốc ngọn đó cho trọn ư, tṛn t́nh cái từ Hoa cúc/Daisy/Day’s eye, thoạt nghe qua đơn giản nhưng không thể dẫn giải –Even as simple a word as ‘daisy’ is untranslatable; mà phải hiểu nó một cách tự nhiên thời thi ca mới sống thực với đời. Chữ ‘daisy/cúc’ qua tiếng Pháp th́ nó là marguerite nhưng nguyên nghĩa của Hy Lạp margaron là ngọc/pearl ; cái đẹp đó cho ta một liên đới khi đặc tên cho phái nữ (feminine name) Marguerite/Cúc Anh/Kim Cúc…Anh ngữ gọi đó là hoa dại/wild flower/day’s eye là tính khí bất thường của loại ‘liễu yếu đào tơ’. Sự cớ đó để cho thi nhân vẽ lên cái đẹp của phụ nữ. Toàn thể bài thơ là lối tả chân thơ. Thiết nghĩ không có ǵ là trừu tượng, siêu h́nh mà đó là chất thơ của thi ca. Nhớ rằng; hành xử của thi ca là có một liên can ở tự nó với sự kiện, nhưng thi tứ có tính chất gần gũi với âm nhạc hơn những ǵ thuộc luận đề (essay); sự đó được nhấn mạnh vào thi ca, thường tỏ rơ để không lạc đường thơ. ‘thơ tức là người’ dẫu có ‘rặn’ hay ‘vọc’chữ, lời thơ hiện rơ chân tướng của tác giả.


Đặc chất của thơ là có một cái ǵ trong đó, nó đ̣i hỏi hay yêu cầu cho một ư khác –The essence of a poem is that one thing in it requires another. Chữ nghĩa của thi ca được để tâm đến, cái sự đó là một đ̣i hỏi bên trong (inner), nó không phải chuyện nhỏ của cái nghĩa vô tận mà là biểu thị tư tưởng (denotation) của những ǵ muốn đối thoại bên trong (inner dialogue) Nhờ những chi tiết vụn vặt mà cấu thành cho một bài thơ đầy đủ cả ư lẫn lời; dẫu đó là con đường ngược chiều giữa cổ điển hay tiền chiến là vận dụng con chữ để trở nên thông thường.Thi ca không buộc phải hay g̣ ép mà tạo ư tưởng rộng răi cho những ǵ không ước lệ; nhờ đó mà phát sinh tư tưởng sáng tạo. Thi ca có khi đưa chúng ta tới hỏa mù nhưng lại được cái soi rọi qua ngữ ngôn. Phê b́nh gia Pháp Boileaud gọi đặc chất của thi ca là không biết chi-mô-răng-rứa và chẳng biết ra sao và ra sao là điều ǵ mà tôi không biết / je-ne-sais-quoi.


Vị chi; thi ca là thứ tạo ra vô ngôn như Shapiro đă nói. Ngữ ngôn của thi ca hay là tiếng vọng ở tự nó / The language of good poetry echoes itself. Nhà thơ đă cho tiếng vọng giản đơn đó đến gần sự chú ư; mà đây là một vận chuyển của ngôn ngữ đi thẳng tới mẫu mực như thể cho ta chú ư vóc dáng của ngữ ngôn (aspect of language) và đẩy vào đó một ư thơ vượt thoát khỏi bức xúc, ràng buộc, cái đó c̣n gọi là mẫu thức của âm vang, một sự khả biến phát sinh ra âm tiết, thi ca gọi tiếng thơ là syllabic/âm vận. Bởi; nhờ tiếng vọng đó có thể đưa tới một sinh khí trong thơ hoặc không nhận ra hoặc nhận ra mà đó là sự hiện hữu của lời thơ dưới khả năng của cấu trúc thơ, để thơ đạt tới đỉnh cao: độc đáo và sáng tạo chất thơ…


Theo sau bốn lư giải nêu trên về thơ, nghĩa là phơi ra ư nghĩa khác biệt nói về âm thanh/sounds của từng con chữ trong thi ca –The four following poems show diferrent means of using the sounds of in the poem. Thành ra dẫn chứng là soi rọi sự thật, phản ảnh trong thơ qua màu sắc và âm thanh hai thứ đó là yếu tố sanh thành để thấy được cảnh đẹp trong tranh-thơ (landscape of poem). Đọc xem:

Em về trắng đầy cong nhung nhớ
Mưa mấy mùa
Mây mấy độ thu

Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em ở đây mà em ở đâu
Chiều Âu Lâu bóng chữ đọng chân cầu.
(Bóng Chữ của Lê Đạt)


Từ chỗ đó thi ca đă phát sinh ra những con đường mới lạ, đưa tới những trào lưu mới khác biệt hiện nay; nó không ôm chồm mà thoát như một thứ ánh sáng mới của ‘âm thanh và cuồng nộ’ là đi đúng chủ trương đường lối canh-tân-thơ. Có khi người ta gọi nó là thứ thi ca nghệ thuật tŕnh diễn(The Poetry Art performance) mà trong đó chúng ta t́m thấy nhịp điệu qua lối nói thông thường, một thứ thơ xuôi được nối tiếp vào nhau nhưng không dứt cho tới cuối bài thơ, nơi mà chúng ta thường bắt gặp ở thơ tự do hay thơ không vần (/free/blank verse) và gần đây nhất của thơ tân h́nh thức (New Formalism Poetry). Nhờ những phát sinh đó cho chúng ta ư niệm của thơ hiện nay; một phần trong đó có tính siêu thực, siêu h́nh hay trừu tượng, những trường phái đó gần với trào lưu của hội họa. Vậy th́; nghệ thuật đương đại (Contemporary art) và thi ca đương đại (Contemporary poetry) là dịp may để chuyển tiếp cho hậu-trào-lưu-thi-ca (post-movement-poetry)? Nhờ vậy mà thi nhân không bị trói buộc bởi ngữ cảnh mà thoát tục để cho thi nhân được tự do riêng tư –which each individual poet free. Đọc xem:

Đêm đă tràn vào từng sợi thủy tinh của chiếc đèn vàng
Và khe khẽ hát
Để em không thể nh́n thấy anh
Bằng thính giác.
(Đêm và Anh của Ly Hoàng Ly).

Một diễn tả khác nghe ‘nghịch nhĩ’ nhưng lại tràn âm điệu của thể thơ tân h́nh thức. Đọc xem:

nắng vẫn phả vào ti hí mắt từ tinh mơ
băo vẫn táp vào mái đầu đốm h́nh vẩy cá

(Miền ơi! của Jalau Anuk).

kẻ giang hồ măi măi ra đi,
với mái tóc làm bằng mây.
Đôi giày của gió
Và tự do của loài chim

(Arthus Rimbaud của Vương Kiều).

Một lối thơ khác gần như thơ không vần mà có nhịp điệu của từng bước chân trong thể thơ 3, 4 chữ.
Đọc xem :

hoa sen lá (3)
mặt nước chân mây (4)
b́nh minh bùn lầy (4)
nhụy vàng phơi (3)
(Nghĩ Giữa B́nh Minh Bùn Lầy của Thúy Liên)

Một lần nữa thi sĩ vẽ lên một đoạn thơ khác nhưng đọc nghe như thể thơ hiện sinh của tân h́nh thức. Đọc xem:

đêm ngă vào tôi những khoảng trống thầm th́
những đáy vực lặng im
run vành môi kỷ niệm
ngực tràn không vướng víu
bàn tay anh khẽ chạm
băo tố
phục sinh tôi những ẩm ức bóng tối
phục sinh tôi những miền xanh hoan mê.
(Phục Sinh Tôi của Thúy Liên)

Ngữ ngôn của thi ca phát tiết dưới mọi h́nh thức là cốt đạt cho tới cái hoài vọng của tư tưởng bằng mọi cách như lời bộc bạch thiết tha của dạng thức siêu h́nh tân h́nh thức; nó có một thứ tự do riêng tư nghĩa là phá chấp trong trạng thái lung linh giữa thực và hư. Bởi; mỗi con-chữ là nói lên cái tự do thi sĩ / each individual poet free. Toàn thể bài thơ xuôi gần như thứ tiểu thuyết mới của thi ca mà thi sĩ đă dầm ḿnh trong đó qua từng con chữ tợ như lời tha oán hay tự trách ḿnh, là tiếng vọng tự nó (echoes itsef) phát ra từ bên trong của nội quan (inner) cho một ngữ ngôn viên măn của thi ca đương đại. Đọc xem:

Một hôm tôi rơi.
Chưa chạm đất mà những phần thân thể đă vội vă chào nhau.
Bức ĺa dây nối mạch thở rồi tản đi tứ phía.
Tâm tuởng tôi trong veo ngỡ ngàng nh́n theo.
Không biết nên chạy theo phía nào.

(Vỡ (Phần I) của Hoàng Ngọc Thư)


Trong những thể thơ khác nhau của thi ca, dưới dạng thơ xuôi hay thơ không vần, ngay cả thể thơ Đường luật. Ở đây chúng ta t́m thấy thể thơ (6/8) ngược chiều của thơ (8/6) vẫn cô đọng một h́nh thái vừa tự do vừa niêm luật. Nhưng; không câu nệ hay cưỡng cầu mà hoàn toàn thoát tục. Đọc xem:

Đợi em nho nhỏ đi t́m bao la (8)
Cho tôi cười lớn khóc ̣a (6)
Nửa đêm thả tóc ḷa x̣a đọc kinh(8)
Cho tôi khăn đỏ tang t́nh (6)
Lêu bêu trong cơi chập chùng âm u (8)
Cho tôi như gă thiền sư (6)
Bỗng nhiên nhẫy cỡn giữa mù mù sương (8)

(Cho Tôi Ngủ Dưới Sân Hiên của A Khuê)


Thơ cổ điển mà giàu âm điệu, lồng chữ, lồng nghĩa để đan kết thành thơ mới. Toàn thể bài thơ phơi mở dáng dấp thể thơ tự do hay không vần; cái đó đ̣i hỏi ở thi ca đương đại. Đọc xem:

Lá đào rơi rắc lối Thiên thai
suối tiển oanh đưa luống ngậm ngùi
nửa năm tiên cảnh
một bước trần ai
ước cũ duyên thừa có thế thôi!
Đá ṃn rêu nhạt
nước chảy huê trôi
cái hạt bay lên vút tận trời
cửa động
đầu non
đường lối cũ
trời đất từ nay xa cách măi
ngh́n năm thơ thẩn bong trăn trôi.
(Thơ Tuyển của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu)

Hiện đại hơn và đương đại hơn không thể phai nhạt theo thời gian mà nó trở nên tồn lưu nhân thế qua một thể điệu thuộc triết lư nhân sinh . Đọc xem:.

Tôi chờ đợi
Lớn lên cùng giông băo
Hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai
T́m cánh tay nước biển
Con ngựa buồn
Lửa trốn con người
Đất nước có một lần
Tôi gh́ đau đớn trong thân thể
Những ḍng sông, những đường cây mũi nhọn
Những biệt ly rạn nứt ḷng đường …
(Bài Ngợi Ca T́nh yêu của Thanh tâm Tuyền).

Vậy th́ thi ca nuôi dưỡng cái ǵ trong đó? -khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những ǵ chưa ai có; đó là siêu lư tư tưởng dành cho một tư duy vượt thoát của thời gian và không gian. Thi ca không lư giải v́ càng lư giải lại làm mất chất thơ. Biến cái chân lư thơ thành cái vô nghĩa thơ (meaningless/absurd). Hơn nữa thơ không b́nh giải. Bởi; b́nh giải làm lạc hướng tư duy của thi nhân, đồng thời làm cho bài thơ lạc ư tứ đi vào ngơ cụt. B́nh giải làm tắc nghẽn giữa người làm thơ và người đọc thơ. Vô h́nh chung không nh́n thấy nét đặc thù mà thi sĩ đổ vào đó để thoát ly ra khỏi những ǵ bức xúc, ràng buộc tâm hồn. B́nh giải có nghĩa là vạch lá bắt sâu làm cho thơ trở nên suy thoái là vi phạm tội ác đối với thi ca, bởi; b́nh giải không sát ư thơ mà tác giả đă dựng lên. Người b́nh giải là kẻ đứng ngoài ṿng cương tỏa (đặc điều, vu khống hay khen chê vô căn cứ). Nhớ cho! nghệ thuật thi ca không cần lư giải –Art-poetry without consolation. Sao thế? -Có chi mô : ‘ngôn ngữ là một lư lẽ của con người mà người đời không biết’ (Claude Lévy Strauss). Vậy th́ nghĩa lư của thi ca là ǵ? -thông thường là tự-phá, tự-hủy (self-destroying) để đạt tới chân lư. Vậy th́ giữa thi ca và thơ có khác nghĩa? -nó có cái bất khả phân ly có từ chữ và nghĩa, là nơi tŕnh diễn tự nó để minh định nó thuộc thi ca (nói chung) và nó thuộc về thơ (nói riêng). Tóm lại; thơ là những thứ dùng để tŕnh diễn (poetries is a performance). Chớ thực t́nh chả khác chi nhau: thơ là trong thi ca và thi ca là trong thơ; cùng một ngữ ngôn, cùng một dáng điệu nhưng khéo tô điểm để được gọi là thi ca, là một dung thông để đối đăi cho nhau. Thế thôi! ./.

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. giữatháng 1/2019)

* ‘Thi ca là làm ra thứ vô-ngôn’ Karl Shapiro ( Nhà thơ Mỹ 1913-2000)
 

-------------


T̀M ĐỌC:
- Tính chất siêu thực trong thi ca của Thanh Tâm Tuyền..
- Đi vào cơi thơ.
Những bài đọc trên của vơcôngliêm hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước hoặc email theo đ/chỉ đă ghi.



 

trang vơ công liêm

art2all.net