vơ công liêm


 

NGUYỄN THỊ KHÁNH MINH

THI CA ĐƯƠNG ĐẠI

‘Elle est venue par cette ligne blanche’* (M. Heidegger)

 

 

Là một định nghĩa quả quyết khi nhận được tập thơ của thi sĩ Nguyễn thị Khánh Minh gởi tặng vào đầu năm 2020. Tác giả tập thơ Ngôn Ngữ Xanh cho tôi một ấn tượng hào sảng khi đọc trọn tập thơ với những phụ lục khác nhau, mục đích nêu lên tính đặc thù trong thi ca của Nguyễn thi sĩ. Thừa nhận nó cho một thứ ngôn ngữ lạ của thơ và hiếm có cho một lối kiến trúc thơ giữa đời này. Ngôn Ngữ Xanh qua nhiều thể thức khác nhau, nhưng; lại bao trùm trong một tư tưởng phảng kháng; một thứ phản kháng nội tại qua một tâm thức tự nhận, tự thú hơn là lư giải hay biện minh. Nó hoàn toàn thoát tục từ bản thể đến bản chất nơi con người thi nhân. Với Nguyễn thị Khánh Minh ta phải hiểu thêm rằng: -thi ca là từ ngữ khác biệt vô cùng / poetry works differently; là v́ thi sĩ biết vận dụng chữ thơ để thoát ra khỏi phạm trù lư luận văn chương mà đặt ở đó một thứ văn chương thơ riêng biệt; bởi vậy gọi là ngôn ngữ xanh, nó hiện nguyên h́nh một tác phẩm hội họa thi ca /art of poetry là một nhân tố đơn thuần trong mỗi bài thơ đă được chú ư tới, thơ coi như t́nh cảnh kịch tính –the poem as a drmatic situation, là tiếng nói của người xướng ngôn (speaker) v́ thơ là một thứ âm vang đồng vọng, hầu như là tiếng nói trung thực bởi người làm thơ. Thơ của Nguyễn thị thuộc trường phái siêu thực là h́nh ảnh phá thể trong một không gian duy nhất như chính thi sĩ đă xác định qua ngôn ngữ trong thi ca, giữa những băng hoại của đời sống văn minh vật chất là lư do chính đáng hay ngấm ngầm trong một tâm thức phản kháng tự tại; đó là cái bóng, cái bóng đe dọa cho một bi kịch đời; chẳng c̣n thấy ǵ khách quan chủ nghĩa và chủ quan chủ nghĩa mà cả hai là đối tượng giữa đời đang sống của Nguyễn thi sĩ, và; cho đây là một phạm trù phiến diện ẩn trong thơ để tách ra khỏi ḍng sống như-nhiên (an nhiên tự tại) mà bừng lên như phương tiện thoát tục, thoát tục để thấy ḿnh trong thế giới tự do thơ, tức thoát ly thế giới ước lệ, ràng buộc của luật tắc để trở về một lần nữa trong như-nhiên của tâm hồn. Đấy là nhiệm vụ của kẻ làm thơ: -không hóa toàn triệt trong đời để đi tới một vận dụng bất khả thi là thực hiện trên mọi khả năng trí thức vốn có, là cơ hội đưa ḿnh vào tác phẩm như chứng nhân làm người; đó là phong cách vượt thoát ra khỏi cơi đời. Sự dày ṿ, bức xúc ít nhiều đă thấm thấu vào tế bào ngũ tạng, tế bào da mặt của nữ sĩ, phản ảnh vào một hiện thể như đă sinh ra. Thơ và người hài ḥa vào nhau trong tư thế độc sáng, bên cạnh đó với một tâm thức đơn thuần để chuyển hóa thành thơ là cái lư đương nhiên của thơ, nó nói lên thân phận làm người phải đối đầu trước mọi t́nh huống. Dựa theo tác phẩm ‘Con người phản kháng / L’homme Révolté’ của A. Camus. Thời mới nhận ra thi nhân là kẻ vong thân, một kẻ lưu đày và quê nhà; tất cả đă bộc bạch qua thơ xuôi, thơ mới, thơ không vần là một trong những thể điệu thông thường ngày nay. Nguyễn thi nhân đă chắc lọc trước sau để đúc thành bản trong cùng một tư duy hiện thực nghĩa là không thay đổi phương hướng mà cùng một ư thức để dựng thành thơ. Đấy là ư thức thức tỉnh để sáng tạo sự mơ về /dreaming-day, một thức tỉnh mănh liệt của sáng tạo nghệ thuật, một thứ nghệ thuật dành cho thơ. G. Bachelara nói: ‘tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng để giúp ta sáng tạo những ǵ mà ta nhận thức được’. Dựa vào đó ta thấy được phần nào hồn và xác của Nguyễn thị Khánh Minh là một hiện thực cụ thể, nghĩa là không bị lôi cuốn trước trào lưu, không ngại ngùng trước mọi t́nh thế biến đổi chất thơ, hoàn toàn lạc quan của người làm thơ là đứng trong tư thế vững chắc /concreted để thành lập thơ bằng một thứ ngữ ngôn khác lạ đầy màu sắc của hy vọng và bí truyền. Gọi nó là Ngôn ngữ Xanh chính là cái đẹp cuộc đời, xoa đi những chạm trán giữa đời, là một liên hệ tương thức để tạo nên cái nh́n khát vọng. Một vũ trụ dự cuộc, vũ trụ khát vọng của con người. Đọc thơ của Nguyễn thị Khánh Minh bằng tất cả giác quan và ư thức, khêu lên một kư ức chua xót: -một cơi kia đă mất (HNI) để đón nhận một nơi khác làm quê hương thứ hai (NTR) cuối đời lại dung thân vào ‘đất hứa’ nhưng trên đất hứa lại chứa huyễn và mộng nhiều hơn là những ǵ trong mơ để được trở về nguyên quán của con người. Nhờ vào đó mà Nguyễn thi sĩ t́m thấy được cái bản ngă tự tại để nhận diện một trào lưu thi ca mới hơn của thời kỳ chủ nghiă hậu hiện đại thi ca (Post-modernisme poetry). Tức nói lên cái mới hơn cái mới, nói lên thể thơ (poetic form) mới hơn h́nh thức thi ca mới (new formalism poetry) kể cả siêu thực, trừu tượng và quá thực; tất thảy nằm trong Ngôn ngữ Xanh của Nguyễn thị Khánh Minh là bằng chứng hùng hồn của những ǵ mới mà tác giả muốn nói tới. Thành ra trong ngôn ngữ xanh là một thứ ngữ ngôn của thời đại mới. Bao trùm ở đó một thứ phản kháng nghệ thuật và một thứ phản kháng siêu h́nh. Lấy từ đó thấy được Nguyễn thi sĩ xưng cái ‘tôi/moi/self’ có lúc, có th́, bởi; xưng cái tôi là nói lên một hiện hữu sống thực (cogito) nhờ vậy mà lôi đầu cơn độc cô nội tại ra khỏi vũng mê ch́m đắm trong tiềm thức từ bấy lâu nay. Cho nên chi ḍng tư tưởng thi ca của Nguyễn thị Khánh Minh phất phơ một sự nuối tiếc nào đó để đi tới phản kháng trước những biến thiên nhân thế; để rồi ḥa ḿnh vào trong cái gọi là ‘tôi phản kháng vậy th́ chúng ta hiện hữu’.Đó là thứ phản kháng tự nhận, tự biết để thoát tục làm người và coi đó như cơn dấy động đă qua đi để trở về với bản thể hiện hữu, một hiện hữu sống thực giữa đời đang sống của thi nhân và t́m thấy một thứ tự do đúng nghĩa như mong đợi. Nguyễn thi sĩ thực hiện sứ mạng này là cả một trường kỳ đấu tranh tư tưởng mới sanh ra đứa con như ư ḿnh: hợp với tánh khí và hợp với đời.

Trong tập thơ chan chứa một t́nh người nồng thắm, chất đầy cái huyền nhiệm của thi ca mà Nguyễn thi sĩ muốn nói tới nhiều lần như nhắc nhở; đó là tiếng nói của linh hồn xanh, kư ức xanh và nhiều màu xanh khác nhau (Tr 87).Xanh ở đây là xanh của trạng thái tâm linh, một tâm thức siêu h́nh không c̣n vọng động; dù đang ở trong sự vọng động đó, thế nhưng; Nguyễn thi sĩ trở về trong cái nhất thể của nó nghĩa là không có hai mà một, cho nên chi đưa hồn vào thơ là ư tứ nhất quán của con người biết phận ḿnh. Nhớ lời Nguyễn Du: -một người đă từng chứng kiến và sống bao nhiêu lần đổ vỡ ở ngoài đời và trong ḷng. Ông viết: ‘sinh tiền bất tận tôn trung tửu / Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi’. Nguyễn thị Khánh Minh không uống rượu quên đời. Nữ sĩ uống rượu thơ để say với đời. Tâm lư này là tương như giữa hồn và xác của Nguyễn thi sĩ khi vào ra với con bệnh: ‘Trường đồ nhật mộ tân du thiểu / Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa’ (Nguyễn Du). Tất cả nằm trong ‘Hạt Thời Gian’ là sát-na vô tận số của thời gian để không c̣n thấy ḿnh giữa nhân gian chờ đợi mà rơi lệ khiến ta khóc (Tr.80 ) Bạn bè cũ mới xa dần, không c̣n nữa…

Với những bài thơ khác nhau nhưng cùng một cảm thức trước hoàn cảnh nhân sinh như tiếng gọi ḷng : ‘Anh ơi. Đó là gió.Và nắng,Và em / Của phố biển Huntington Beach. Hôm nay’(Tr.69).Tôi cảm hóa câu thơ này! Đi cùng một bài thơ xuôi khác, như thể ḥa điệu cùng tôi: ‘Tôi biết.Tôi sẽ được cất tiếng. Trong mùa thơ quyến dụ ấy với ngôn ngữ t́nh nhân. Ngôn ngữ tôi nghe một lần trong xứ sở chiêm bao. Khoảnh khắc giấc mơ tôi thực sống…(Tr.118) Đọc rồi mới thấy cái đáo để trong thơ của Nguyễn thị Khánh Minh. Quả không ngoa! Mà thừa nhận nó như một chứng thực cuộc đời đang sống; có trong đó của chúng ta.

Sở dĩ gọi là Thi ca Đương đại (Contemporary poetry), là v́ thi nhân là kẻ đang sống và chứng kiến của đổi thay từ nội giới tới ngoại giới trong cùng một thời kỳ, cùng một thời đại và trong cùng một cảm xúc. Xưa gọi là Thi ca Hiện Đại (Modern poetry) tưởng là mới lạ nhưng quan niệm đó chưa đạt yêu cầu để rồi phải có một Hậu Hiện Đại với một tư duy đổi mới hơn. Là ghi chú vào một phân định và tính cách thi ca hiện đại –A Note on Chronology and the Modern temper. Cho nên chi gọi Nguyễn thị Khánh Minh là thi sĩ đương đại, bởi; nó được định vị của tất cả những ǵ mới / modern nằm trong một cảm thức đồng t́nh như một điều ǵ đă có trước và sau này. Nguyễn thi sĩ đứng trên cương vị chủ thể của đổi mới tư duy, dù rằng nó đă đổi mới thi ca vào những thập niên 1930 và lớn dần về sau này, những thể thơ như thế tiếp cận nhanh và lôi cuốn như một trào lưu thi ca thời thượng là khác biệt giữa ước lệ, qui cách hoàn toàn nghịch lư giữa đời này. Nhưng; hậu hiện đại của tk. hai mươi mốt là cái mốc lớn, nó đổi thay toàn diện từ ngữ ngôn cho tới văn phong, một sự vượt thoát để đuổi kịp trào lưu. Nguyễn thị Khánh Minh du nhập vào đó để làm sáng tỏ bằng một thi văn kinh dị và lạ lẫm. Càng dị thường chính là lúc Nguyễn thi sĩ chinh phục được cuộc đời, tức là chinh phục ở chính ḿnh bằng mọi phương tiện khác nhau để đi tới cái mới lạ trong thi ca. Nói theo thuật ngữ triết học thời cái sự đó là vấn đề trầm tĩnh tư duy (philosophycal problem). Thơ của Nguyễn thi sĩ là có ư để đả thông (esoteric) bởi ít nhiều chọn lựa con chữ để đi vào cái ngoài (beyond) của hiểu biết và nhận thức và cũng là là một tiềm ẩn khác có tính cách mơ hồ (obscure) trong mỗi bài thơ của Nguyễn thi sĩ đă dựng nên. Cái mơ hồ trừu tượng trong ngôn ngữ xanh của Nguyễn thi sĩ là cả suy tư và t́m thấy để định nghĩa cho rơ thực hư của thế nào là thi ca đương đại(?) -Nó ẩn tàng, ẩn dụ, trừu tượng, siêu h́nh là vị trí của hiện sinh chủ nghĩa. Nói đúng ra nó là thứ thi ca thuộc siêu h́nh (The metaphysical poetry). Nó nhập vào thơ một cách vô h́nh (ngay một số thi nhân khi thành thơ vẫn không t́m thấy cái siêu h́nh trong đó). Thi ngữ đó rất ư độc cô /solely. Bởi nó là âm vang đồng vọng mỗi khi cất tiếng, gịng luân lưu đó là tiếng nói ‘tự do’ và ‘hạnh phúc’ trong cái chặn chót / next-to-last của bài thơ mà nó chỉ nhập vào một cách tự nhiên và bất ngờ; là cơi phi trong thi ca. Là thứ thơ thời thượng của nữ sĩ Nguyễn.

Cái ǵ gọi là siêu h́nh ? -chính là cái ‘vượt thời gian’.Vượt ở đây là ra khỏi cơi ngoài space/beyond, nó không thuộc về thời gian tính mà nó là cảm thức chưa được trọn vẹn như yêu cầu ở tự nó, cảm nhận về những ǵ không cầm giữ được cho một hiện hữu tồn lưu. –The sense of incompleteness itself, the feeling of irrecoverable loss of existence… mà trở nên h́nh dung từ của trí tưởng để thành thơ là thế đấy!.

Ở đây chúng ta không cần lư giải, phê b́nh, phân tích từng loại thơ khác nhau, cũng chẳ cần b́nh giải mà nặng ưu tư. Nhớ cho rằng: những nhà thơ là vận động viên của ngôn ngữ -Poets are the athletes of language- là khả năng vận chuyển trí tuệ để thành lập ở đó một chủ đề đầy chất xanh. Đấy cũng là một ẩn dụ của thơ, bởi; thi ca là nguồn phát tiết trước tiên và hàng đầu của nghệ thuật tŕnh diễn –Poetry is first and foremost a performer’s art. Đời thơ nằm trong ngôn ngữ; là con đường rộng mở, có thể cảm thức nó dưới nhiều chiều kích khác nhau, không c̣n thấy ǵ là trừu tượng hay siêu h́nh mà là thứ ảo giác của nhà thơ mô tả có chiết tính giữa hiện hữu và tha nhân (người đọc) một cách rơ nét để đả thông tư tưởng.

Cho nên chi nói hiện hữu và tha nhân là cái sự bất khả tư nghị, là v́; hiện hữu chỉ là đối tượng thời gian và tha nhân chỉ là biến cố, sự kiện. Nhưng đặc nó vào hiện hữu và tha nhân để nhận diện mặt thực của đời trong thi ca mà thôi. V́; thơ là thể tính của nhân sinh. Nguyễn thi sĩ hiểu một cách thấu đáo vai tṛ làm người qua một thứ ngôn ngữ mới của ‘Xanh’ là tiếc thương và hoài niệm hay cố thoát ra khỏi thân phận bằng những h́nh tượng hướng tới tương lai như được trở về trong cơi mơ. Thành ra dưới nhản hiệu ‘Ngôn ngữ Xanh’ là một liên tŕnh biện chứng giữa quá khứ và hiện tại, tương lai được gieo vào cánh đồng ‘xanh’ bất tận đó để làm nền cho mầm sống. Ngôn ngữ Xanh để lại cho ta một bố cục như sau:

1-Thời gian ngoại tại và sự chuyển vần.

2- Thời gian nội tâm và gịng tâm lư.

3- Ḍng đời tương giao giữa người và vũ trụ.

Cả ba thứ đó là trục quay trong thi ca của Nguyễn thị Khánh Minh.Thực ra; thơ của nữ sĩ Khánh Minh là loại thơ tŕnh diễn (poetry performance) không xa với Thanh Tâm Tuyền hay Phạm Hầu. Mà mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười là thế, đó là đặc thù riêng cho thơ. Nguyễn thi sĩ thực hiện ‘trọn gói’ về nó.

Để t́m thấy một sự rốt ráo trong thơ của Nguyễn thị Khánh Minh, bởi Nguyễn thi sĩ không duy tŕ một thể thơ cố hữu mà dựng vào đó đa dạng thơ là biểu tượng cho một thứ thi ca sống thực, dù cho ngữ ngôn xa la của thơ vô nghĩa (nonsense poetry) ngay cả thơ nhảy, vọt là thể thơ lắp đặc (the poetry installation); biết rằng ngắt nhịp hay vắt ḍng trong mỗi bài thơ nhất là thơ một, hai hoặc ba, bốn chữ, không phải v́ thế mà gián đọan (Tr. 41,42, 47,48) . Rất nhuần nhuyễn và tiết tấu. Ngắt câu có chuẩn độ của nó thành thử không lạc phách, bởi; qua kinh nghiệm làm thơ của nữ sĩ Khánh Minh đă t́m thấy sự hợp lư đó trong thơ. Tuy nhiên; thơ tự do hay thơ không vần của Nguyễn thi sĩ là thái độ xử lư để dựng thành thơ: bằng ngữ điệu, cú pháp, văn phạm và sự lập lại của con chữ mà vẫn tinh thông không phạm trường qui và không bi lụy hay ảnh hưởng ǵ đến qui luật của thi văn. Đó là chân tướng của người làm thơ dưới mọi thể thức khác nhau.

Ngưng ở đây. Tôi đă thân quen với thi sĩ Nguyễn thị Khánh Minh cách đây chín, mười năm với những bài thơ mà tôi đă bắt gặp, coi nó như chứng tích h́nh thành loại thơ xuôi một cách hào khí và tuyệt cú. Tôi dùng nó làm phương tiện phát huy. Chắc chắn tập thơ Ngôn Ngữ Xanh của Nguyễn thị Khánh Minh với nhiều bài thơ khác nhau đều cùng một tâm lư như nhau. Đọc nó để thấy ḿnh nằm trong ư thơ đó một cách hồn nhiên với một thân tâm độ lượng. Trích một khúc trong bài: ‘Mùa Xuân Mưa’ của nữ sĩ Khánh Minh:

‘Dường như nắng chưa biết mùa xuân về
Trời xám cùng những dự báo về một cơn băo lớn, về một
trận động đất, về một ngày tận thế, có thể.
Tôi thảng thốt.
Như một tiếng chim vừa hoảng hốt trong mưa.
Không thể bắt đầu mùa xuân như thế.

Có tiếng khóc của ai đó vừa cất lên chào ngày thứ nhất.
Nắng một ngày nơn xuân, tiên đoán cuộc đời sẽ măi là
những ngày nắng đẹp, nên người yêu màu xanh, yêu thanh
b́nh, yêu những đơn sơ. Người đến em từ giấc mơ. Mùa xuân phương Nam rực rỡ nắng
.

Tại sao bắt đầu mùa xuân bằng những trận mưa và gió.
Gió Santa Ana. Gió có gai làm tôi buốt nhói.
Phiá bên kia đại dương trời đất chập chùng tin dữ.
B́nh minh yên ngủ, gần đây thôi, mà như đă thành cổ tích.
Nỗi sợ đồng hóa hết mọi thứ. Thiên tai mong manh hóa hết
mọi điều.
Tại gió, tại mưa không nhớ hạn kỳ? Tại đất tại trời xô lệch





Mưa bắt đầu xuân ở đây.
Mưa mặn nước mắt.
Nḥa trời Santa Ana’.





Nguyễn Thị Khánh Minh (Santa Ana, mùa xuân 2011))
Hợp Lưu #116/2012
.
Tập thơ Ngôn Ngữ Xanh của Nguyễn thị Khánh Minh là thơ tuyển của một hành tŕnh dài chất chứa những khuynh hướng khác nhau; nhưng tựu chung nói lên một thứ chủ nghĩa tự nhiên (naturelyricism) và h́nh tượng (Imagism); là điều dễ cho ta tiếp thu, bởi; trong mỗi bài thơ không phải là tự ư muốn nói cái ǵ mà là một thể hiện cụ thể về t́nh người và cuộc đời / A poem should not mean; but be. Sách in ấn tao nhă, tŕnh bày mỹ thuật và gần gũi giữa người viết và người đọc. Sách thơ hiện đang lưu hành hoặc muốn biết thêm chi tiết qua điạ chỉ email : khanhnguyenm@yahoo.com sẽ đem lại niềm vui trọn vẹn. (vcl)


VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc . áp tết Canh Tư 2020)

* ‘Nàng đă đến bởi cái đường vạch trắng đó’ (Martin Heidegger)




 

trang vơ công liêm

art2all.net