VƠ CÔNG LIÊM

 

NGUYỄN TRÃI,

TẤM LÒNG HỨA QUỐC (*)

      

     “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tỏa” (*)

                                           Vua Lê Thánh Tôn

 

 

Có phải Nguyễn Trăi (1) sinh ra để hy sinh, để nhận lănh trách nhiệm làm người trong giai đoạn đấu tranh dành độc lập cho đất nước rồi cuối cùng nhận lănh cái chết oan khiên như thế ?

Đó là sinh mệnh của kẻ sĩ phải chấp nhận như một mệnh lệnh của “trời ban”. Nguyễn Trăi nhận thức được biến thiên đó. Nỗi oan khiên ấy được phát hiện từ khi bước vào đời cho tới khi đầu lià khỏi xác. Điểm thời gian đó c̣n chảy măi cho đến bây giờ, dù đă được minh oan hay đă được phục hồi phẩm trật xứng đáng với người. Sự sáng tỏ c̣n tiếp tục theo đuổi với thời gian, dù sự kiện đă đi vào quá khứ nhưng vẫn không phôi pha với ḷng người. Một hành quyết đau đớn, một bản án lệch lạc, vu khống,buộc tội, thất nhân tâm của những con người nắm quyền hành; do cái ḷng cố vị đầy tham vọng vô thức. Tranh chấp với người tức là tranh chấp với đời. Thời gian không dừng lại ở điểm ấy.

Thời gian niềm đau khổ của con người chính là nỗi bi đát của thân phận làm người, mà Nguyễn Trăi phải gánh chịu, v́ con người là một vật thể mang nặng tính thời gian. Sở dĩ như vậy v́ sống có nghĩa là chuyển vần; triết lư nhà Phật cũng bao hàm chân lư đó, nhân quả hay nghiệp dĩ đều nằm trong ṿng quay của luân hồi vũ trụ. Vậy sống có nghĩa là đổi thay măi măi theo bao nhiêu biến đổi của vũ trụ; vũ-trụ-ngoại-giới và vũ-trụ-thời-gian. Nguyễn Trăi sống và chết trong cái vũ trụ hiện hữu đó. Con người đứng trước bao nhiêu chuyển vần, biến thiên rồi chỉ biết nức nở,ngậm ngùi. Nguyễn Trăi nh́n thấy được thời gian sẽ “giải phóng” nỗi oan cho ḿnh, đó là thời gian dấn thân và thời gian tự tại. Thời gian của thoái trào hư hóa, thời gian của nghi ngờ, bôi bác, phụ bạc…con người không thoát được với thời gian v́ thời gian chính là yếu tố sống của ḿnh cũng như bao nhiêu số phận khác. Những biến tŕnh đó đi qua nhiều giai đoạn.

-Giai đọan thai sinh: Nguyễn Trăi sanh trong một gia đ́nh có tước vị, đông anh em(1380); một trách nhiệm lớn lao giữa gia đ́nh và xă hội.

-Giai đoạn thơ ấu: Tuổi lên 5 đă thiên di về quê ngoại để chứng kiến những đổi thay từ trong ḷng người; mất mẹ (1390) rồi ngoại thân mất. Trong ḷng đời chứng kiến cha phải làm quan hai triều, sống xa. Đó là những mất mát, thiệt tḥi trong đời Nguyễn.

-Giai đoạn trưởng thành: Đứng trước cảnh phân ly giữa cha con (1407)rồi những đổi thay của đất nước, đổi thay cả t́nh người qua bao cuộc kháng chiến chống Minh.

-Giai đoạn già: Đó là giai đoạn hủy diệt, là biện chứng của suy tàn, một nhận lănh bi thương  phải trả cho cả một đời hy sinh quân với dân.

Nhưng biết làm sao để giải bày tâm sự đó. Nguyễn Trăi đă mượn mọi hoàn cảnh, mọi t́nh huống, gắn liền với thi văn để giải bày tâm sự uẩn khúc mà thời gian là bản chất của đời người. Thân phận của Nguyễn Trăi đồng hóa với thời gian. Thời gian đă chuyển vần cho cuộc đời của Nguyễn Trăi từ tuổi ấu thời cho đến khi nhận lănh sự bi thương ở vườn Vải. Âu đó cũng là thiên mệnh sắp xếp cho đời ông và rồi phải đi qua những tiến tŕnh như vậy, với tâm trí thiên phú vừa dụng văn vừa dụng vơ. Thân phụ ông đă nh́n thấy được những nhân tướng như vậy ở nơi ông.

 Lục tuế nhi đồng phả ái thư.

 ( Trẻ sáu tuổi mà đă ham đọc sách)

Phải có như thế mới ra Nguyễn Trăi về sau nầy. Đó là cứ điểm được qui định như một vị trí thời gian xuất phát hay chính sự đổi thay của vũ trụ, của đất trời làm cho con người ư thức sự biến dịch là một tuần hoàn vũ trụ giới. Nguyễn Trăi nằm trong sự biến dịch của ư thức đó.

Quay đầu tư cố hương! Nguyễn Trăi nuôi chí phục thù như lời dặn ḍ của cha, mang vào người một ư chí bất khuất, đó là thời gian ở Đông Quan. Thời gian sẽ trả lời những câu hỏi cho Nguyễn Trăi những ǵ sau 10 năm nuôi chí phục quốc. Từ sự chuyển ḿnh đó đến một vị trí khác của đất trời và vũ trụ cùng đang tuần tự đổi thay. Hội thề Lũng Nhai là một thay đổi lớn cho sự nghiệp dấn thân của Nguyễn Trăi (1416). Thời điểm đó chính là thời điểm của “hứa quốc” dâng ḿnh cho tổ quốc, một hy sinh cao cả mà mấy ai thời bấy giờ tỏ rơ tấm ḷng độ lượng với quốc dân. Ông nhận biết sự hy sinh của ḿnh là nghĩa vụ. Tâm vô lượng, vô ngại của Nguyễn Trăi đă xóa bỏ mọi dằn xé, mọi tranh chấp, mọi phương trượng của triều đ́nh.

 

Bình Ngô Đại Cáo

 

Tấm ḷng hứa quốc chính là tấm ḷng hiến ḿnh cho tổ quốc của Nguyễn Trăi. Khởi từ những ngày nằm gai nếm mật cùng với Lê Lợi để soạn hịch, điều binh khiển tướng, tạo dựng một giang sơn lừng lẫy cho Lê Thái Tổ. Nguyễn Trăi soạn B́nh Ngô Đại Cáo (BNĐC) là “Thiên Cổ Hùng Văn”,  một hiến chương oanh liệt lấy nhân tâm làm đạo lư, lấy t́nh yêu xóa bỏ hận thù, lấy nghĩa khí thắng bạo tàn và lấy chữ nghĩa thắng gươm giáo, cởi trói mọi uẩn khúc của lương tâm. Người hy sinh tất cả đời ḿnh cho sự nghiệp đấu tranh giữ nước và dựng nước, hy sinh cả lực và t́nh. Đó là tâm thức của kẻ sĩ, một thái độ sống của Nguyễn Trăi. Thái độ phản chiến giữa thức giới và mê giới, dựa trên tư tuởng nhà Phật “nhất thiết hữu vi pháp như mộng huyễn bào ảnh” (Kim Cương Kinh).

Tưởng thân hư ảo nổi bằng bào

(Mạn Thuật. QATT)

Ông phân định cụ thể sự phản kháng đó. Thái độ bất phục đám quan lại tham ô, cửa quyền, thái độ mất cương lĩnh của triều thần. Đối tượng chính yếu của Nguyễn Trăi  là t́nh yêu và thương dân.

 

Nguyễn Trăi sinh ra không nhầm thời, có tài nhưng trở thành bất tài. Cả vương triều mù đâu có thấy ánh sáng của Nguyễn Tướng công Hành khiển. Tất cả đổ đầu cho Nguyễn Trăi và đó là ḷng “Oán thác” của ông(1429). Tất cả cuốn phăng đi bao nhiêu hoài băo của Nguyễn Trăi, bởi những đám hoạn quan, những triều thần ngơ ngáo, trục lợi đâm ra nghi ngờ, vu khống, tù ngục, bải chức, điều mà làm cho người ta thấy được Nguyễn Trăi mang nặng trên vai những nỗi thống khổ của thân phận, mà thân phận như muốn nh́n thân phận khác. Phải chịu nhận thời gian trôi chảy với thời gian.

Sống chết là lẽ thường t́nh; đó là hai cực điểm của sự chuyển vần. Ra khỏi cảnh ngục tù, Nguyễn Trăi rơi vào cảnh nghèo túng và trong phút hiện hữu đó của cảnh đời Nguyễn Trăi đi lần vào bóng xế của tuổi già th́ thấy không gian ḿnh đang sống là bi đát, là thê thảm của những t́nh huống xẩy ra như bị thời gian hủy diệt trong từng phút, từng giây. Bài “Thủ Vĩ Ngâm” dưới đây nói lên cái bi đát cùng cực đó.

Góc thành Nam lầu một căn

No nước uống thiếu cơm ăn

Con đ̣i trốn dường ai quyến

Bầy ngựa gầy thiếu kẻ chăm

Ao bởi hẹp ḥi khôn thả cá

Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn

Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải

Góc thành Nam lều một căn.

 

Sau khi đại thắng quân Minh, Lê Lợi xây dựng một vương triều đầy quyền lực, áp đảo mọi thể chế được ban ra. Những ngày thề quyết trong kháng chiến, những mặn ngọt có nhau, vào sinh ra tử, biết bao ước vọng để tái tục một đất nước thanh b́nh thịnh trị; giấc mơ đó giờ đây tan vỡ như băng để lộ những bản chất cố hữu phân hóa, chia rẽ; biến niềm tin hóa ra hận thù,  đố kỵ để phân tranh, tha hóa một đất nước đáng ra phải sung măn từ vật chất đến tinh thần như những bản điều trần trước đây giữa vua tôi. Tất cả đă biến thiên theo nhân ngă; trong khi ấy Nguyễn Trăi mờ lu trước đám quan lại tham ô, nịnh hót để rồi biến minh quân thành u quân.

Vùi dập chức năng, đánh mất niềm tin của con người chí khí Nguyễn Trăi; rồi đẩy ông vào thế cùng, biến ông thành hư danh v́ sợ cái uyên bác của ông mua chuộc ḷng dân, Nguyễn Trăi biết những tị hiềm đó cho nên ông từ quan, mai danh ẩn tích để vui thú điền giả ở chốn thiên nhiên, quên đi lớp bụi trần và xa dần cái hăi hùng đáng sợ của bọn khuyển mă khuấy nhiễu lương dân.

Công danh lở đường vô sự

Non nước ghê chốn hữu t́nh

(Thuật hứng QATT)

Nguyễn Trăi lui về với sự chuyển vần chứ không phải bỏ cuộc giữa đời này. Trong t́nh huống nào chăng nữa Nguyễn Trăi luôn luôn là kẻ có ḷng với dân và hy sinh cho tổ quốc. ”Hứa quốc”trở thành là lời thề. Ông ư thức được nhiệm vụ của một người yêu nước. Nguyễn Trăi không ngại đường công danh của ḿnh nhưng ngại vận nước sẽ đi về đâu; qua tay đám triều thần mù quán. Đó là nỗi băn khoăn của ông. Với tấm ḷng vô lượng của Nguyễn Trăi đă phản ảnh phần nào trong B́nh Ngô Đại Cáo:

Lấy đại nghĩa thắng hung tàn

Đem chí nhân thay tàn bạo

Cái nghĩa khí đó là kiến tánh của một con người nhận thức được lẽ nhân tâm. Nguyễn Trăi đem tâm như của ḿnh để khuyến dụ giặc. Đó là tâm-như-nhiên của một anh hùng dân tộc, đem ḷng “hứa quốc” để hy sinh cho đất nước cũng là việc đại sự cho dân tộc.

Sự chuyển vần của Nguyễn Trăi là đẩy lùi những phi lư nội tại để đi tới cái nhất quán, nhất tâm. Nguyễn Trăi ư thức được sự vượt thoát của mọi khổ đau, mọi dục vọng giữa con người với con người, cứu con người ra khỏi biển mê và lầm than để đi tới đích toàn vẹn; điều ấy cũng là h́nh thức của hứa quốc tức là nhận thức được vai tṛ của một con người hiện sinh trong cuộc sống. Con người hiện sinh của Nguyễn Trăi không nh́n vào liên tŕnh thời gian ngoại tại như một h́nh thái phương tiện. Triết lư đạo đức nơi con người của Nguyễn Trăi là ở cái chỗ biết ḿnh; Nguyễn Trăi hơn đời ở cái chỗ biết nhận ra ḿnh là kẻ yếu để thắng được kẻ không biết ḿnh yếu “dĩ nhược chế cường, dĩ quá địch chúng” ( ở thế yếu vẫn chống được cái mạnh, lấy ít địch nhiều) BNĐC.

Đó là câu trả lời minh xác cho Nguyễn Trăi bằng một sinh phong đạo đức và kiến tánh. Trong bài phú Nguyễn Trăi viết như thế nầy:

Bởi biết người, biết ḿnh, biết làm kẻ yếu, biết làm kẻ mạnh

Đợi thời ŕnh cơ, che gươm giấu mác

Gối củi mà nằm, treo mật mà nếm

Lo rửa sạch thẹn xưa và thu lại bờ cơi cũ.

(Chí Linh Sơn Phú)

Thời gian hiện sinh của Nguyễn Trăi là sự chuyển vần ngoại tại là tiêu đề của biện chứng là con đường đi tới măi trong bao nhiêu trở ḿnh, biến dịch không ngừng mà Nguyễn Trăi là chứng nhân của thời thế lúc bấy giờ. Sự chuyển vần nầy không thể đi ngược với gịng đời. Đem bản thân ḿnh ra để tạo thành một biến dịch hiện sinh, cái biến dịch nầy không ở ngoại giới để lôi cuốn Nguyễn Trăi mà chính nội tâm đẩy mạnh nguồn sống; đó là thời gian tâm lư mà Nguyễn Trăi xử dụng dưới một triều đại hỗn mang và cũng là sức sống tất nhiên của con người giữa cuộc đời này.

Nhờ vào những yếu tính đó mà Nguyễn Trăi hiện hữu để đối đầu với bao đổi thay bất ngờ. Vị trí của hiện hữu là bao hàm quá khứ, bao hàm tương lai của đất nước. Nhưng giá trị của ư thức  mà Nguyễn Trăi luôn luôn vận dụng là hoài niệm giữa quân-thần-dân để làm sáng tỏ tri giác hiện hữu.

Cho nên Nguyễn Trăi lui về với chốn thiên nhiên là tu tập trong tư thế tĩnh lặng để thấy được ḿnh tức là thấy được người; v́ thế mà Nguyễn Trăi nhận ra được chân tâm làm người, tất cả là vô thường, vô ngôn, vô ảo, vô thực kể cả công danh phú qúi, tất thảy là phù du, tất thảy đều nằm trong cơi luân hồi nghiệp dĩ, giữa tha nhân và hữu thể; đó là thái độ phản kháng, phản kháng của Nguyễn Trăi không phải là chống lại sự thua thiệt, mất mát mà nếu v́ thế mà tổn hại đến nhân cách hay danh dự của ông chăng nữa th́ đó cũng là một thứ phù thế giả tạo. Nguyễn Trăi tự vấn như sau:

Xét bởi sự qua hay sự đến

Bao nhiêu nơi nhục bởi nơi vinh

(Tự Thán, QATT)

Điều đó như một xung đột nội tại khiến ông phải nói, phải giải để vơi đi những uẩn khúc. Đó là gịng ư thức, nhưng giá trị của ư thức con người chính ở chỗ biết vận dụng trí tuệ để làm sáng tỏ tri giác hiện hữu, bởi Nguyễn Trăi biết được số phận của ḿnh cũng như cuộc đời của kẻ khác qua ư thức tâm lư của ḿnh và dự đoán những h́nh thái sẽ xẩy ra trong cuộc đời cho nên giá trị hiện hữu chính là giá trị của thân phận con người mà ông đang gánh chịu; v́ đă qui kết  được cả quá khứ và tương lai qua biến tŕnh thời gian vào cuộc đời ḿnh đang sống. Do đó chê khen là lẽ thường t́nh của con người hôm nay và ngày mai,mặc cho đời, ông chẳng ngại:

Khó ngặt hăy bền ḷng khó ngặt

Chê khen mă ngại tiếng chê khen

(Bảo Kinh Cảnh Giới, QATT)

 

Với một tấm ḷng hứa quốc từ mọi hướng của Nguyễn Trăi, ông đem nhân nghĩa để trị quốc b́nh thiên hạ, đó là chiến quốc sách trong thời chiến cũng như thời b́nh. Trong Kinh thư có nói ”An Nhữ Chỉ” nghĩa là phải làm đúng lúc và phải dừng đúng lúc;  ấy là đạo xử thế của đấng minh quân cho nên Nguyễn Trăi không những là vị quốc công thần, vị đại sư của nhà Lê mà c̣n đối với dân tộc, cái nhân tâm ấy là thể hiện ḷng báo quốc, hứa quốc một cách hợp t́nh, hợp lư; đó là đạo trung dung của Nguyễn Trăi đứng trước mọi hoàn cảnh. Ông không ngại những thử thách của lũ bè phái xu nịnh, xúi dục quân vương để mưu cầu danh vọng. Nguyễn Trăi  cảm nhận và ư thức về những cảm quan đó; nghĩa là luôn luôn thấy ḿnh hiện hữu với thời gian qua tất cả mọi biến cố của cuộc đời. Nhờ minh định được sự hiện hữu, Nguyễn Trăi cảm thấy ḿnh làm tṛn nhiệm vụ chức năng của kẻ bầy tôi pḥ vương, cứu nước từ trong ra ngoài đó là tấm ḷng vô lượng, vị tha của anh hùng áo vải đất Lam Sơn. Cho nên Nguyễn Trăi không dừng lại, không buông xuôi theo vận nước, mà dấn thân cho việc hứa quốc. Đấy là ư thức sâu xa của Nguyễn Trăi về cuộc đời và ư thức sâu xa của một con người hiện sinh trước sự biến dịch của thời gian.

Nguyễn tuớng công tin vào thời gian là nút gở là phân định phải trái cho hành động của hiện hữu, đó là hiện hữu tâm lư ư thức mà ông trực diện với đời.

Thương sinh tại niệm độc tiên ưu

Bành thương tang cốc đồ hưu luận.

(Mạn Hứng.TCH)

(Nghĩ đến chúng sinh một ḿnh cứ lo trước thiên hạ

Sống chết người ăn kẻ ở,con đ̣i đều chả cần phải bàn)

 

Không “hành” được th́ phải ”tàng” không ”xuất” được th́ phải ”xử”  đó là học thuyết nhà Nho. Nhưng với Nguyễn Trăi chọn lựa đó không phải dể dàng mà là nỗi trăn trở, nhức nhối không nguôi và cho đó là một nhận thức sâu sắc về thế thái nhân t́nh.

Đă biết cửa quyền nhiều hiểm hóc

Cho hay đường lợi cực quanh co.

(Ngôn Chí)

Sau một thời gian ẩn ḿnh trong chốn sơn lâm cùng cốc; nay lại triệu về triều (1440), phục chế chức Hành Khiển giữa lúc việc nước cực kỳ đen tối, sự suy tàn đó là do những bàn tay quan liêu tham vọng, hủ hóa, bóc lột lương dân, đẩy cả nước vào đường diệt vong. Nguyễn Trăi nhận một trách nhiệm lớn lao giữa vua tôi và thần dân, liệu một ḿnh Nguyễn Trăi có vượt qua cơn sóng dữ đó không?

May thay Nguyễn thị Lộ có mặt giữa hiện trường lúc ấy; Bà là một người uyên bác về văn học đồng thời là một nhà lư luận quân sự, một người am tường việc nước. Thái Tông tin dùng và bổ nhậm chức Lễ Nghi Học Sĩ phải chăng đó là mệnh trời ban cho Lê triều hay mệnh trời ban cho Nguyễn Trăi và Nguyễn thị Lộ? Hậu duệ nhà Lê c̣n hay mất cũng nhờ qua hai vị công thần nầy. Đó là thời gian giữa mối tương quan của vô tri và hiện hữu. Vô tri là cái vô h́nh chung và cái hiện hữu là hữu thể. Thời gian như ngừng lại đó; để đánh dấu! Sự bi đát sau này không c̣n là thời gian mà chính là thân phận làm người của Nguyễn Trăi và ngưng kết trên dữ kiện siêu lư đó.

Chính cái thời điểm nầy Nguyễn Trăi cần được giải toả ra khỏi sự vây phủ của đám vô loại, đám gian ác âm mưu hảm hại người, hảm hại đời quên cả việc nước v́ thế mà quân vương sa vào con đường trụy lạc…

Hiện hữu lúc này như một bức tường thành chót vót cao, đứng trước số phận của con người. Tương lai, qúa khứ mất đi, Nguyễn Trăi chỉ thấy một hiện hữu vắng lặng, thê lương không thiết sống, không c̣n ư nghĩa, tất cả rơi vào cơi u minh bởi v́; tất cả không thể cứu ḿnh, không thể hiểu ḿnh một cách suông sảy, tất cả mâu thuẩn tự tại vây kín đời ông chỉ c̣n lại tiếng kêu trong sâu thẳm, tiếng kêu của bi thương.

Nguyễn Trăi đút đầu vào gông cùm, đưa tay để trói buộc như một tội đồ, Nguyễn Trăi bước đi dưới những con mắt háo danh của bọn lấn quyền. Nguyễn Trăi đứng trước một án lệnh phi lư, một nghi án tàn nhẫn đối với những người không ăn mà chịu, một luật lệ man rợ của loài thú dành mồi; để rồi nhận cái án tru-di-tam-tộc. Nguyễn Trăi coi đây là một sứ mạng mà thiên mệnh đă giao. C̣n lại ǵ? C̣n lại bóng thời gian. Nh́n ḿnh như một tấm ḷng hứa quốc; đó là tấm ḷng dâng hiến thanh cao như Bụt; để rồi đi vào cơi không. Nguyễn Trăi ung dung trong ngục thất, trước khi trảm; ông đề tựa bài thơ như sau:

Ánh nước hoa in một đóa hồng

Vẩn nhơ chẳng kém Bụt là ḷng

Chiều hôm nở chiều mai rụng

Sự lạ là đây thuyết sắc không.

(Mộc Cận QATT)

 

Vậy cảm giác lúc nầy của Nguyễn Trăi là ǵ? Là nhận định bằng cảm giác trực tiếp ngay số phận đang sống của ḿnh qua sự bắt gặp của ư thức, cho nên có thể có một hiện hữu của hành vi và cảm giác, đó là sứ mệnh hiện hữu tác động như đă hoàn tất, như một mùi vị chua cay hay ngọt bùi, tất cả hoài niệm đó loăng dần với thời gian, không chụp bắt được, không cảm được bằng tri giác không gian mà giờ đây chỉ c̣n kư ức với thời gian.

Lâm tuyền hữu ước na kham phụ

Trần thổ đê đầu chỉ tự liên

(Loạn hậu đáo Côn sơn cảm tác)

(Trót hẹn với rừng suối đâu nở phụ t́nh

Cúi đầu trong cát bụi nghĩ mà thương thân)

  

Giờ đây; bên cạnh những con người đan tâm phủ dập thời gian, tưởng sẽ che lấp được như Lê Sát, Lê Lựu, Nguyễn thị Anh, những nhân vật như thế lùi dần vào bóng đêm, nhường chỗ cho cái tâm vô lượng của con người biết xử dụng thời gian như một phương tiện cứu văn cảnh đời phi lư không c̣n nữa, xử dụng thời gian để xây dựng một tấm ḷng ưu ái giữa quân với dân. Hoạt động với cái tâm-như-nhiên,tâm-vô-lượng-tính và tâm-vị-tha-vô-biên của Nguyễn Trăi và Nguyễn thị Lộ, đó là tấm- ḷng-hứa-quốc của hai vị anh hào dân tộc phản chiếu cho tới ngày nay.

Con người đặt thân phận ḿnh trong một biến tŕnh trôi chảy, một chấp nhận thương đau. Dự phóng siêu h́nh như thế chính là sự biểu lộ một nỗi niềm sợ hăi, đau thương về đời người và cuộc sống. Nguyễn Trăi và Nguyễn thị Lộ chết là dự phóng của thời gian, bí mật của hiện hữu chính là cái ”vô tận của tính không” nằm ở chỗ đó! (D.T.Suzuki) và rồi để lại cho thời gian một tiếng vang dài; đó là giấc mơ đồng vọng của nhân gian.

 

Tâm vô lượng cũng như tấm ḷng hứa quốc của Nguyễn Trăi là một thời gian vô biên, vượt qua bao thế kỷ, một ánh sáng nhân nghĩa và một trí tuệ siêu việt cả văn lẫn vơ trong lịch sử Việt Nam. Bọn hủ lậu quan lại sợ ánh sáng của Nguyễn Trăi ra tâm làm lu mờ. Nhưng không; ánh sáng của chân lư là sự thật, là tiếng nói thời gian và nay người được tôn vinh như một danh nhân văn hóa thế giới.

Không biết ngày nay trên thế giới loài người có c̣n những tham vọng phản hồn như thế nữa không? Nguyễn Trăi đă chứng minh tấm ḷng trung vi quân, hiếu vi dân xứng đáng một Hứa-Quốc cho dân tộc Việt. Không cần đánh giá Nguyễn Trăi hơn nữa mà hăy suy ngẫm…

Lục tổ Huệ Năng đă nói:”Sống là để nh́n thấy” (The meaning of life is to see) ./.

 

VƠ CÔNG LIÊM  (lậpxuân. haikhôngmộtkhông)

 

_____________________________________

   

(1)     Nguyễn Trăi (1380-1442)

-sanh năm Canh Thân 1380 tại làng Nhị Khê,huyện Thường Tín,tỉnh Hà Tây.

-chết năm Nhâm Tuất 16/8/1442 cùng với vợ thứ tư là Nguyễn thị Lộ theo đó với ba đời họ.

(*)-Hứa quốc:nghĩa là hiến ḿnh cho đất nước.

(*)-Tấm ḷng Ức Trai ngời sáng như sao Khuê.(Lê Thánh Tôn).

Sách tham khảo:

-Nguyễn Trăi, Sinh Thức và Hành Động của Vơ Văn Ái, NXB Quê mẹ, Paris, 1993.

-Nguyễn Trăi, Cuộc Đời và Tác Phẩm, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2008

-Nguyễn Trăi,  Huyễn Thực và Sắc Không, Gs.Trần Ngọc Ninh,  Ca., USA, 2008

-Nhận thức Thái Độ Thẩm Mỹ của Nguyễn Trăi của Gs.Nguyễn Mạnh Hùng, Hợp Lưu #92-2007.

-Hào kiệt Lam Sơn I và II của Vũ Ngọc Đĩnh, NXB Văn học, Hà Nội, 2003.

 

 

  

Tượng Nguyễn Trãi ở Quebec, Canada

 

 

Tượng Nguyễn Trãi ở Lệ Chi Viên, Bắc Việt

 

 

 

trang vơ công liêm

art2all.net