VƠ CÔNG LIÊM

  

  NHỚ TRĂNG PHƯƠNG ẤY

                            gởi: Trần Hoài Thư và Phạm văn Nhàn

 

Biển gầm tiếng sóng từ xa đưa vào, hàng cây dương liễu uốn ḿnh theo gió, đong đưa lả lơi như tóc thề người con gái ở tuổi xuân th́, nghe vi vu, cao vút cung điệu của tiếng dương cầm, trút vào giữa khoảng không một âm thanh mơ hồ lăng mạn, bờ cát trắng nằm im chờ đón con sóng dữ của biển động đưa vào. Biển chết hẳn; nhuộm màu đen thẫm. Những ụ cát lớn chạy dọc theo bờ, bắn tung lên từng cụm mỏng bay theo gió, khó mà nhận ra đây cát mù hay bọt sóng mù. Trên băi thưa người qua lại, hàng quán đă dẹp gọn, đóng kín. Chủ nhật chiều nay buồn hơn mọi khi, trời biển trở nên hăi hùng.

Trong những lùm cây âm u, rải rác một vài cặp nhân t́nh cụng đầu vào nhau, mặc cho sóng gió gào thét, họ núp vào sự trở chứng của thời tiết để nhét cuộc t́nh hoang vào đó. Chắc chắn sẽ không có ai để mắt hay nh́n trộm, họ an tâm và  hôn nhau nghe thành tiếng, ú ớ trên môi như tiếng th́ thầm của khoái cảm, nào ngờ bóng đêm xâm chiếm, đồng loă, đẩy cả hai vào “du thuyền” t́nh ái, khó ḷng cản lại được, hơi ấm của xác thịt là mùi vị của yêu đương, ngoài trời gió ươm lạnh mà cơ hồ ướt đẫm mồ hôi trộm chảy ŕ rầm trong người. T́nh yêu tha thiết qúa, ngồi nh́n biển, nghe biển gào không chừng kéo họ ra khơi rồi nhận ch́m xuống ḷng biển. Cả hai t́nh nhân đứng dậy, nắm tay đi sâu vào cánh rừng hoang. Cảnh trời lúc ấy dịu hơn trước, những đốm sáng rạng ra từng khoảnh trên nền trời, không c̣n đe dọa họ như buổi xế chiều hôm nay. Đi trong đêm; th́ thầm bên nhau, gây nên một cảm giác sung sướng, hạnh phúc hơn bao giờ, họ quên thời gian, quên luôn sự có mặt của ḿnh, h́nh như ái t́nh thôi miên để đưa đường dẫn lối họ đến lâu đài t́nh ái tối nay.

Ôm nhau bước vào bóng đêm, được một khoảng, cả hai qụi xuống bên bờ cát mịn nhưng không rời đôi môi, nằm soải tay bên nhau, bóng thông là màn buông, che bốn bề tĩnh lặng, chỉ c̣n lại tiếng ru của mây ngàn trong cảnh tịch liêu. Cả hai háo hức điều ǵ hay họ muốn khám phá cái lạ trong đêm đen; khác hẳn những lần ḥ hẹn trước đây, bởi lẽ cuộc hẹn hôm nay là một  đánh dấu cho đời họ, cho một cuộc t́nh dài lâu mà cả hai kiên nhẫn đợi chờ ngày thăng hoa của t́nh yêu. Nhưng cuộc thế đă biến đổi, biến đổi luôn t́nh yêu của họ để rồi cả hai nghi ngờ cho chính ḿnh, nghi ngờ là phải; cuộc đời này đâu có ǵ là chắc, hôm nay nghĩa vụ hôm sau nghĩa trang. sự thế éo le ngay gia cảnh của họ cũng đă xẩy ra điều đó, cho nên cả hai luôn luôn thấy đời là mong manh. Thời gian lúc nầy khẩn trương, thúc bách làm cho họ sợ. Họ xua đuổi ám ảnh sợ hăi ra khỏi lúc nầy, quay về với luyến ái, xoa dịu niềm đau và cố quên những ǵ sắp xẩy ra, như rào cản cuộc t́nh của họ; cả hai ôm  vào nhau để chận lại sự  tước đoạt  qua tay ḿnh,  môi kề môi ; giờ đây họ không sợ mà ngược lại tin yêu vào t́nh yêu của ḿnh hơn bao giờ.

Cả hai phó mặc cho định mệnh, nhắm mắt, lặng thinh và chỉ c̣n nghe tiếng hú của con tim. Gió thổi vào đường ngôi, tóc tung bay lờn vờn trước hai gương mặt lờ đờ của kẻ khát t́nh, tứ chi co rúm, run run, thể xác chạm vào nhau, nóng hực; chưa bao giờ nực đến thế, bàn tay chàng dịu dàng lần ṃ dưới lớp áo mỏng của nàng, đôi nhủ hoa thức giấc muốn bung ra khỏi nịt vú, chàng vén lên xem,vú xán vào mặt, chàng thấy chới với, đưa tay sờ nhẹ, vo tṛn nhủ hoa, đôi nương long cựa ḿnh, thấp thỏm khó chịu, xô chàng ngă xuống tận cuối chân nàng, mắt ngước nh́n lên và đưa tay lần ṃ trên chiếc quần lĩnh đen, nghe rào rạo tiếng rên của đêm. Cả hai nhập cuộc hồi nào không biết, lư trí mờ ảo, chỉ thoảng tiếng gió đi qua giữa đêm khuya và để lại vài hạt sương rớt xuống trên lớp da mịn…

- Anh hứa với em đi! Đừng bao giờ quên em anh nhé. Soan nói.

- Anh hứa! Không bao giờ. Anh muốn cưới em ngay để ngày mai anh đi xa, anh yên ḷng và  không hối tiếc. Thuần nói.

- Th́ ngày anh về rồi hăy tính, sao nóng ḷng thế hỡi anh ? Em tin anh và trao hết cho anh. Anh biết không? Với lại cưới hỏi là chuyện trọng cho cả hai ta. Tháng sau anh về phép th́ cũng chưa phải muộn. Đơn vị đóng ở đây cũng không xa lắm. Anh b́nh tâm. Em vẫn chờ anh về. Soan nói.

- Anh sợ đơn vị chuyển đi xa rồi sẽ không thường xuyên gặp em. Thuần nói.

Tháng sau nhận được thư từ tiền tuyến gởi về. Soan từ tốn đọc: “… anh tưởng sẽ không chuyển xa như thế, nay th́ xa thật, đơn vị tác chiến của anh bây giờ nằm ở biên giới Lào Việt về hướng tây nam, bốn bề trùng điệp núi rừng, ở đây buồn và cô quạnh chỉ gần gũi với khói súng, bom đạn. Trong anh chỉ c̣n lại em và hy vọng nơi em. Thế nào rồi cũng phải về để cưới em, xin em đừng lo… yêu em măi măi.” Soan đọc tới đâu, nhớ tới đó. Nước mắt khô lăn chậm trên g̣ má.

 

***

 

Chiếc cam-nhông màu xanh lá lúa, hiệu Mô-Lô-Tô-Va mang hàng chữ số sơn trắng sau cửa xe và hai hông xe 047- 0269574 chở một số tù nhân, đứng ngồi ngổn ngang trong thùng xe, há hốc mồm, đưa mắt nh́n phố chợ với đôi mắt buồn vời vợi trước cảnh người và vật sau hơn 10 năm xa quê đi học tập cải tạo, nay được trở về nguyên quán. Trong đám cựu quân nhân chế độ cũ đeo ḿnh trong chiếc xe thùng phủ đầy cát bụi, có Thuần ở đó. Nhảy xuống xe, tay ôm gói lương khô và túi xách đựng ba đồ vụn lượm lặt trước ngày nhận giấy quyết định hồi hương.

Trông Thuần già hẳn ra, tóc hoa râm, người gầy và khỏn lại, đôi mắt không c̣n nhăn lực thu hút mỗi khi nh́n, ch́m sâu trong trũng mắt, ḿnh  mặt  chiếc áo màu cứt ngựa bốn túi, sờn vai của bộ đội phế thải với cái quần vải bố xanh Trung quốc bạc màu, rộng lưng, chân đi đôi dép nhựa màu bẹ mo cau, ṃn gót, đầu đội nón lá dứa ủ màu nắng mưa.

Nếu được xem một tấm ảnh của 10 năm trước và hơn 10 năm sau, chắc khó h́nh dung để nhận ra một sĩ quan quân lực thời trước và một tù nhân chiến tranh thời nay, khác hẳn hoàn toàn. Thuần không dám soi ḿnh trong gương. Sợ già chăng? Không; Thuần hổ thẹn với núi sông, hổ thẹn với người t́nh cũ mà không dám trở về đối diện với thực tế; 10 năm là cả một quảng đời biến động, nhất là ở cái đất nước nầy làm sao mà nguyên vẹn h́nh hài. Thuần rùng ḿnh, nhắm mắt để cho thời gian trôi vào quên lăng. Cái điều muốn quên chính là điều nhớ măi, nhớ kỷ hơn bao giờ, kư ức đó luôn nằm trong trí nhớ Thuần. Chờ viết thành văn.

Sau một tháng định thần dưới sự quản lư của điạ phương, đi đứng hay hành xử điều ǵ phải có phép tắc của thôn đội, xă đội và huyện đội. Thuần như con thú nhốt trong rọ chỉ đưa đôi mắt rụt rè nh́n ra ngoài hoặc mỗi khi có bàn tay rắn khô sờ đến. Thuần nghĩ đến rúng cả người. Nhiều đêm Thuần nằm nghiêng người trên chơng tre khóc một ḿnh. Thà chịu trận nằm ở trại giam c̣n hơn phải về quê quán làm ăn theo qui cách nhà nước, mà có ai dám nhận cho làm đâu mà qui cách với quản lư. Thời c̣n ở tù, Thuần sanh hoạt trong trại giam như kẻ bị đ́, đi nhặt củi, nuôi heo gà, trồng hoa mầu để có kinh tế nuôi dưỡng cho nhau, thủ phận và tự coi ḿnh là thằng người bất lực với đời. Có đôi lần bị hành xác hay h́nh phạt th́ cứ xem như là trả nợ trần gian. Giờ đây có tung hô, vỗ ngực th́ đă quá muộn, thế rồi ôm đùi gối mà thở than. Thuần chỉ t́m nguồn hạnh phúc mỗi khi đi nhặt củi xốc lên vai, dừng chân nh́n mông lung vào cơi xa mờ để được sống lại với hoài niệm, nhớ về những ngọn đồi 204, 309, 861, 881, đồi A’Mong ở A-shau, A-Lưới, nhớ về Làng Vê trên đường số 9 đến Khe Sanh, gặp gở toán lực lượng đặc biệt, nửa khóc nửa cười và ở đó có một vài cụm nhà sàn của người thiểu số, họ hoà ḿnh với quân trú pḥng nghe đạn nổ giữa những đêm mưa, nhớ những bạn đồng đội trúng đạn nằm chờ chết, hay nhiều đêm trực canh, bấm đèn viết thư cho Soan trong lô-cốt chất đầy bao cát, vỏ đạn. Sau 30 tháng 4 th́ Thuần không c̣n viết thư cho Soan. Thuần chậm răi bước xuống đồi về lán với anh em chia xẻ nỗi đau. Xa vắng đă lâu mà Thuần cứ ngỡ như ngày nào. Đau xót cả con tim! Về quê mà vẫn thấy lạc ḷai, cô độc, miên man tợ như kẻ trốn nợ, trốn trách nhiệm với người t́nh; tháo chạy không ngoảnh lại. Thuần đau khổ cho thân phận ḿnh. H́nh ảnh Soan đă hơn 10 năm cứ c̣n lởn vởn trong đầu, không biết sự thế ra sao, nhiều câu hỏi được đặt ra. – khi yêu nàng, ḿnh 35 tuổi, nàng 28 tuổi. Giờ gặp lại liệu có nhận ra không? Thuần tuyệt vọng thường ôm đầu suy tư như cảm thấy hụt hẫng điều ǵ. Nhớ về cái thuở xa xưa ấy chàng thấy thanh b́nh thịnh trị làm sao,  vững tâm để xây dựng lư tưởng, nh́n lại thực tế cả một đống tro tàn, vùi trong  quá  khứ. Một  đời  bể dâu cho một  đời người. Thuần  nuốt  trái  đắng  hơn mười mấy năm qua trong tư thế nghẹn ngào của phận ḿnh và vận nước.

-  Bà có biết cô Soan con gái ông bà Thế trước có cửa hàng bán gạo lẻ hồi đầu giải phóng 75 ? Thuần nói.

Bà già bán nước chè, miệng nhai trầu, tay vấn điếu thuốc rê, ngần ngừ uống từng cụm trí nhớ để hồi tưởng, cảnh vật thay đổi hẳn, h́nh như cái chỗ bà ngồi bán nước chè, hồi xưa là đầm rau muống; bà ngẫng đầu lên trời như h́nh dung vị trí. Thuần kiên nhẫn đợi chờ. Nh́n bà hớn hở hơn. Nhoẻn nụ cười.

-  Nhớ ra rồi cậu ơi! Nhà họ ngày xưa ở cuối chợ, xa chừng cây số từ đây về  dưới, mà đâu c̣n ai ở dưới đó mà cậu t́m. Bà già bán nước nói.

Thuần nghe qua điếng cả người. Như thế là xong, c̣n mong, c̣n đợi ǵ nữa.Tính quay bước trở về. Thuần c̣n nuôi hy vọng, buột miệng hỏi.

-  Bà biết họ đi đâu không? Thuần nói.

-  Nghe đâu họ trốn ra nước ngoài. Người nói bị bắt, kẻ nói bị ch́m tàu. Nói cho ngay giờ đây tôi quên hết. Khó nhận ra lắm cậu ạ. Bà già bán nước chè nói.

Thuần đứng trước căn nhà của ông Thế, xưa kia Soan thường hay gióng mắt bên liếp cửa nhỏ chờ Thuần đến. Những cây cao, bờ bụi không c̣n nữa. Vật và người thay đổi, khác hẳn và buồn hơn. Thuần cúi đầu, lặng lẽ bước đi về phố cũ.

 

 Từ ngày rời xa những khu rừng Việt Bắc về lại nguyên quán, mọi sự không c̣n như xưa, Thuần không thể t́m lại những dấu tích nơi một lần dung dưỡng Thuần thuở mới chào đời, bên cạnh những thân thương tŕu mến và măi cho tới bây giờ trong sự ngă quị cuối cùng của cuộc đời; căn nhà hoang phế cha ông để lại trong ngơ cụt, lơm sâu là chứng tích của thời gian kinh qua bao thế hệ, giờ Thuần ngự trị ở đây như kẻ thừa kế, ǵn giữ để chận lại những phôi pha và tàn phai…

Thuần đẩy chiếc xích lô vào con hẽm đưa về nhà, lưng thấm mồ hôi, những giọt mồ hôi rơi từ trên trán xuống nền đất nghe rơ âm vang. Thuần thả ḿnh lên chiếc ghế mây èo ọp, thở phào vói tay cầm tờ báo đọc, Thuần đọc báo hằng ngày, chữ nghĩa là nguồn an ủi cuối đời cho Thuần và cũng nhờ có báo Thuần mới hay ḿnh “trúng số trời ban”. Chàng nhảy phóc ra khỏi ghế, đứng dậy, đọc liên tục với nỗi mừng vô hạn, rồi tự đặt câu hỏi, có thực là chính sách hay là tin tức “dzổm” của mấy vị làm báo thời nay. Thuần ôm hy vọng mong manh đó. Để xem!

Thật quả như thế; Thuần đứng dậy như lực đẩy, sau ba năm hành nghề phu đạp xe khách trên đất quê ḿnh. Đùng một hôm nghe tin chính thức từ cơ quan nhà nước cho biết về những tổ chức nhân đạo, thoả hiệp với chính quyền để cứu xét những người phải chịu thiệt tḥi của cuộc chiến,  nay được phép định  cư  ở phần đất khác, trong đó phái đoàn Việt Mỹ chấp  nhận cho những sĩ quan chế độ cũ đă một thời  cống hiến  cho tự do nay được  ra đi. Thuần cho đây  là một  đổi đời lần thứ hai của đời ḿnh, đổi thay như  thế  không  đem lại cho Thuần một hạnh phúc khác mà Thuần hiểu được ư đồ của sự  đổi thay đầy mưu lược; giải cứu để nói lên t́nh nghĩa  cứu nhân độ thế, một hành động thủy chung để làm cái gương cho mai sau, nhưng bên trong có cái lợi khác của kẻ đứng ra nhận lănh, họ nhận một thứ “phân bón” mới cho những cánh đồng bao la bỏ hoang từ lâu, nay có người đến để trồng cây, trồng lúa, tăng gia sản xuất cho đất nước họ, giá đó quá rẻ cho việc đầu tư “nhân đạo”; người đi hồ hởi mà quên đi sứ mệnh của ḿnh. Phiá khác có cái nh́n tàn nhẫn hơn “đi cho khuất con mắt” nuôi tốn cơm, không chừng lại nuôi ong tay áo, biết đâu được; v́ bản chất ḿnh vốn đă hoài nghi để rồi đi tới “dĩ diệt” nhau mà không ai hay biết, bên cạnh đó vẫn duy tŕ một điều kiện “đầu tiên” như đă cam kết, mà cả hai bên đều có lợi…Thuần hiểu hơn bao giờ từ 10 mấy năm qua. Thuần đâm đơn đăng kư như những người bạn cùng cảnh ngộ, cả một tương lai đầy hứa hẹn, phấn khởi và tự tin. Ḷng họ giờ đây như phục sinh, nuôi mộng lớn để phục hồi khí thế. Nhiều người đă bán tháo, bán đổ, bán cả bát nhang  bàn thờ hoặc bỏ một khoản tiền lớn để được “nhổ neo” cùng vợ con sớm hơn thứ tự gọi tên chức vụ, quân hàm. Họ đứng khoanh tay, ngoan ngoăn chờ đợi ở hành lang. Thuần chẳng phải háo hức; thu nhập của một thằng đạp xích-lô th́ làm sao chen chân với đời, Thuần thả trôi cho định mệnh; kéo dài gần cả năm chả nghe gọi đến tên ḿnh. Nghèo gặp eo. Đời thế đó!

Thuần mỏi gối đạp xe về nhà của những chiều chạng vạng thiếu ánh đèn đường trong ngơ cụt. Bỗng nhiên Thuần cảm thấy lạc quan yêu đời v́ chân lư của lẽ sống quá phũ phàng nhưng đầy t́nh tiết thương mong. Thuần nghe như ai gọi tên ḿnh, giọng phụ nữ. Thuần ngờ ngợ, tiếng ai như tiếng Soan ? Ngoảnh lui.

-   Anh c̣n nhận ra tôi ? Cúc Hương đây. Người đàn bà nói.

-   Không! Thuần nói.

-  Cha mẹ em là chỗ thân quen với ông bà cụ nhà anh. Lâu lắm chắc anh quên. Em con út, sau anh cả 10 tuổi. Người đàn bà nói.

Thuần thật sự không nhớ những h́nh ảnh đă qua, sau hơn 10 năm trở về từ miền đất lạnh ở chốn thâm sơn cùng cốc, trí nhớ nhạt phai. Thuần mặc cảm và sợ hăi mỗi khi nghe ai nhắc đến chuyện xưa; Thuần không tin một ai. Thuần sợ phỉnh phờ, lường gạt cho nên thụ động, thụ động cho chính ḿnh, kể cả đàn bà, con nít; để rồi mắc bệnh trầm cảm mà có ai hay. Giữa hoàn cảnh nầy Cúc Hương có đánh thức chàng trở lại với thời gian hay thời gian là sự vùi dập của hiện tại để biến cả hai cô độc, lẻ loi giữa cuộc đời này. Khó hiểu cái t́nh thế nhiễu nhương lúc nầy.

Thuần trả lời lấy lệ, đẩy chiếc xe ba bánh tróc sơn, đă qua bao đời sương gió, đi chậm trên lối về nhà, khác ǵ con ngựa già thiếu ăn, yếu đuối ráng kéo cái thân tàn cho tới ngày chết. Thuần ngoảy lui để xem người đàn bà đó có c̣n kiên nhẫn đi theo chàng để t́m hiểu tự sự. Không  thấy  ǵ  cả; chỉ thấy  một  vũng tối  chập chờn trước mặt, trong con hẽm thâm u buồn tẻ thiếu sinh khí. 

 

Ngày lại ngày. Thuần kiếm được đồng nào là bồi dưỡng cho cái thân tiều tụy của ḿnh để tránh ốm đau mà bốn bề chẳng có ai nâng đỡ.  Con  em gái  lấy chồng trước ngày Thuần đi ra Bắc, có đi hay về mấy khi đoái hoài đến thằng anh bạc phước nầy; nhưng trách làm chi, cô chưa trách ḿnh là may lắm rồi. Vợ chồng  thị nay ở kinh tế mới, đâu có đủ lực để về thăm. Thuần nghĩ cái sức chịu đựng của người phụ nữ cũng như em gái ḿnh là can đảm, thán phục, can đảm hơn cả chính ḿnh. Nghĩ mà xót thương sự chiến đấu của những người đàn bà hơn sự chiến đấu của ḿnh, họ không bao giờ qui hàng trước cuộc đời này. Thuần cảm thấy trẽn với đứa em gái ḿnh, th́ lư ǵ mà lănh đạm thờ ơ với Cúc Hương; đem cái gương mặt bán tín, bán nghi ra đối xử với nhau như thế. Hoá ra đốn mạt hay v́ ḷng tự ái cá nhân hay v́ ḷng danh dự một đấng nam nhi. Rỗng tuếch!

Thuần ân hận cái lối hành xử của ḿnh và từ đó Cúc Hương cũng treo buồn. Thuần chờ cơ hội để nối lại t́nh bang giao thuở xưa cũng như bây giờ th́ may ra xoa dịu phần nào nỗi tuyệt vọng trong người chàng. Một miếng khi đói bằng một gói khi no, tuy lời nói nầy nó không phù hợp với hoàn cảnh bấy giờ nhưng vẫn hàm một ư sâu sắc; dù hắn là ǵ chăng nữa nhưng hắn cùng nằm một lán với ḿnh, cùng ăn độn một lều và cùng ngồi trên một chiếc xe cam-nhông cà gật về đây năm nào, c̣n qúy hơn thời hắn nằm trong sư đoàn, tiểu đoàn…th́ sá ǵ một người phụ nữ như Cúc Hương, cần phải nâng niu, bảo vệ, che chở những cánh hoa trước gió mới đúng vai tṛ người hùng thời đại giàu ḷng yêu nước, yêu người. Phải gặp Cúc Hương cho bằng được; biết đâu nàng giải phóng cho đời ḿnh ra khỏi vũng lầy tăm tối nầy.

Trên đường đi đón khách, đạp xe một chân thong thả rong chơi, bất chợt thấy Cúc Hương tay xách rổ chợ về nhà, trong dáng nhẹ nhàng, thong dong của một người đàn bà đứng tuổi; cũng chẳng hiểu nàng chồng con ǵ chưa? Thuần đâm ra suy tư. Đạp xe đến gần, Thuần ho nhẹ để đánh tiếng, Cúc Hương vẫn cúi đầu đi không buồn nh́n. Thuần gọi nhỏ tên nàng, nhưng chẳng mấy ai nghe.

-    Cúc Hương! Thuần nói.

Nàng ngước nh́n mừng rỡ, miệng mỉm cười chào hỏi thân mật. Thuần ngạc nhiên thái độ chân t́nh của Cúc Hương; lẽ ra nàng phải giận chàng hôm gặp gỡ lần đầu. Nhưng không; đàn bà vẫn có mưu mô của họ giống như vạn vật đều có những ngón nghề để pḥng thân và để nuôi thân. Cúc Hương sỏi đời ở tuổi 40. Nhưng không phải yếu tố đó; Cúc Hương có cái nh́n thời cuộc, cảm thông t́nh người và trong con người Cúc Hương có dấu vết đă đi qua trong đời…

- Sao? Hôm nay kiếm được bao nhiêu mối rồi anh? Cúc Hương nói.

- Chả có bao nhiêu. Muốn kiếm ǵ ăn trưa rồi về nhà nghỉ khoẻ để tối có sức chạy qua đêm.Thế thôi!  Thuần nói.

- Làm ǵ mà đạp qua đêm hỡi anh? Cúc Hương nói.

- Giờ ở đâu? Chồng con chưa? Thuần nói.

Trong câu hỏi vô t́nh của Thuần có khác ǵ một lằn roi quất vào người nàng. Cúc Hương cúi đầu nh́n xuống đất, ḷng tự nhủ ḷng, có nên nói hoàn cảnh của ḿnh cho chàng nghe hay không. Ngước mắt nh́n Thuần, đoạn nói rất khẽ.

-  Nhà gần đây thôi anh. Cúc Hương nói.

Thuần nhận ra câu nói của Cúc Hương không mấy hồ hởi như buổi ban đầu, trong đáy mắt nàng, dường như chứa đựng một tiềm ẩn sâu xa. Thuần hiểu điều đó và  đánh trống lảng sang chuyện khác, thỉnh thoảng pha những câu trào phúng để thấy ḿnh vui hơn, Cúc Hương cười rộ mỗi lần nghe giễu đời dí dỏm của Thuần. H́nh như những lời đối thoại ngắn ngủi, những câu nói bông đùa vô tư mà làm nên cuộc t́nh, hóa giải những uẩn khúc mà lâu nay kẹt cứng trong đường ống của giải thoát. Họ giă từ trên đường về nhưng để lại cho nhau một điều ǵ thầm kín trong tim. Trời lúc ấy giăng đầy mây xám như chuẩn bị mưa.

Cúc Hương cảm thấy rộn ràng hơn. Thuần lặng lẽ chờ đợi chuyến đi sắp tới về vùng đất hứa, để thấy đời ḿnh nhẹ phần trầm thống như những ngày qua.

 

***

 

Một sớm mai nào mà nay Thuần đă hơn 70. Tóc râu bạc phơ, sói đầu phần trước và phất phới đám tóc tiên quanh đầu như tiên ông đạo cốt, da thịt đỏ thắm nhờ biết dinh dưỡng thức ăn, một phần sống gần biển cho nên hít thở không khí trong lành mà làm cho thể xác và tinh thần phấn chấn thêm ra. Thuần nghỉ hưu được 5 năm trong một gia cảnh b́nh thường, vật chất không phải thiếu, so sánh một xă hội tân tiến ngày nay. Ông cũng chẳng mấy tự măn về ba cái thứ đó, ông cho rằng cái ǵ đủ là đủ, đừng quá thừa và cũng đừng quá thiếu; th́ đó là hạnh phúc, là lẽ sống; ấy là điều mà ông thường  trao đổi với vợ con. Mà thật như thế; 20 năm lập lại cuộc đời ở đất người, gia đ́nh ông ngụ ở một thị trấn vùng ven, dân cư thưa thớt chuyên về đánh cá và sản xuất hải sản, cho nên cũng đủ việc làm ăn cho một cộng đồng năm ngàn cư dân, trong số đó có chừng 500 dân ta định cư trước và sau khi Thuần đến đây, sống lâu bên nhau, cùng cam, cùng khổ, cái t́nh đồng bào đúng nghĩa hơn những nơi đô thị lớn, hầu như ai cũng xuất thân từ đau khổ mà ra, v́ thế dể cảm thông nhau, cũng nhờ sống trong một xă hội có pháp luật, có phúc lợi bao che cho nên lành mạnh hoá đời sống, th́ lấy đâu mà tranh chấp. Ông Thuần an tâm về điều này và sống êm đềm bên cạnh Cúc Hương.

Sau một năm định cư ở đây, Cúc Hương sinh cho Thuần một đứa con trai. Thuần muốn đặt tên cho con ḿnh là Soan. Không ngờ cái tên thường gọi ấy lại thích hợp ở xứ nầy. Cúc Hương hạnh phúc bên cạnh cuộc t́nh già và Soan là nguồn an ủi cho hai người ở  đất  khách  quê  người. Ông  Thuần không c̣n một đ̣i hỏi nào hơn. Thú  c̣n  lại  của ông  là ngồi tĩnh lặng  một ḿnh  ngắm trăng  vào mỗi tháng trên chiếc ghế mây, đu đưa trước hiên nhà, từ đầu hôm cho tới nửa đêm như thuở nào dừng chân trên đồi để nhớ về một thời quá văng, nơi đă chất chứa không biết bao nhiêu là máu lệ cuả một đời người…

 

****

 

Mùa đông năm 20… Thuần nhắm mắt, lặng lẽ ra đi trong ṿng tay âu yếm của người vợ hiền một đời tận tụy thủy chung với ông. Ông chẳng để lại một lời dặn ḍ nào khác hơn. Bởi ông đă từng nói; tất cả sẽ đi vào cơi không, chẳng có ǵ đáng giá trên cuộc đời này, chỉ có tấm ḷng cao qúi là lưu danh muôn thuở.  Cúc Hương và Soan hiểu thấu tâm điạ bao la đầy chất vị tha của chồng và cha; dù nơi đây hay nơi nào ở chốn trần tục này.

Ngoài biển nghe vang tiếng hải âu vỗ cánh, dội cả thinh không, biển vắng người qua lại chỉ thấy gió, cát, mây và sóng nước bềnh bồng giữa không gian vô tận ./.

 

VƠ CÔNG LIÊM ( Giỗ mẹ Âu Cơ. Đoan Ngọ 5/5 Tân Măo 2011)

 

trang vơ công liêm

art2all.net