vơ công liêm

 

NHỮNG D̉NG THƠ ĐƯƠNG ĐẠI

                             “Những sáng tác có giá trị,thực chất có ít nhiều vô đề”(Lê Đạt)

 

 

Thơ nằm vơ vất bên đường

Ngày qua tháng lại khói sương phủ nḥa

(Triều Tâm Ảnh - Huyền Không Sơn Thượng II - ảnh ĐLK)

 

Trong những năm gần đây, làn sóng thơ văn nở rộ trên những mạng (web) văn học  cũng như rải rác trên một số báo giấy ở trong và ngoài nước. Tung hô những ngôn từ như một sân khấu tŕnh diễn văn chương; tạo những cái lạ mắt, gây chú ư tài năng và thiết lập một hiện tượng văn học (?) Thơ đă sản xuất quá nhiều, biến những vần thơ đặc trưng trở thành chợ-thơ-tiểu-tư-sản; liệu những thứ “văn nghệ” đó có giữ được tâm hồn thơ, đúng nghĩa chất thơ hay là một thứ thơ hiện diện với đời như một nhu cầu tiêu thụ? Những điều như thế làm cho thơ trở nên tạp nham và thương tổn đến thơ, gây ô nhiễm đi tới căn bệnh thời đại “virus” khó ngăn được!

Nhưng ở đây; đặc biệt chú ư những ḍng thơ đương đại (contemporary poetry) mang nặng tính chất thơ tŕnh diễn đúng nghĩa mà mỗi câu thơ hay bài thơ chứa đựng một ngôn từ hiện thực realistic chủ đích mô tả sự trung thực giữa tâm hồn và sự vật phản ảnh thực chất nhịp-sống-đời bằng mọi h́nh thức khác nhau của thơ: từ Siêu thực (surrealistic), Dă thú (fauvism) hay Đa đa (Dadaism)…đă xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, những ḍng thơ được sáng tạo qua những thể cách khác nhau, chữ nghĩa đan kết vào nhau, lắp ráp h́nh ảnh trong bài thơ với một h́nh thức canh tân như giọng điệu của thơ, thơ trắng, thơ không vần (blank verse), thơ tự do (free verse), thơ h́nh thức (formalism), tân h́nh thức (new-formalism, thơ lắp-ráp poetry installation,thơ nghệ thuật tŕnh diễn (poetry art-performance), thơ không gian (poetry air-space), thơ nhảy vọt (iambic-foot); tất cả đi tới một sự hội nhập đẹp mắt của bóng dáng nghệ thuật thơ (body-art) và biến thơ thành một không gian lư tưởng cho một sân khấu tŕnh diễn nhạc kịch hay một pḥng tranh đầy màu sắc lập thể giữa vật và cảnh trí bài thơ. Đó là những lời thơ mà nhà thơ gởi gắm tất cả tâm hồn ḿnh vào bài thơ một cách xuất thần và vi diệu trong cùng một cảm xúc, bởi nhà thơ đă sống đầy đủ từng chữ, từng câu thơ, nhất thiết không bị vướng mắc một hoàn cảnh nào làm chi phối ḍng phát tiết tư tưởng trong thơ. Do những tư duy mới trong thơ chớ không g̣ gẩm hay nặn chữ để thành thơ, ấy là điều đáng lưu ư v́ ngôn ngữ là một phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngôn ngữ; đó là giá trị đích thực của người làm thơ,cho nên; bản chất của thơ là sáng tạo đó là nhận thức và cảm xúc của người làm thơ hôm nay, là một hoạt động về tâm linh (soul of mind) của con người, một hoạt động có tính sáng tạo, chính nhờ những sáng tạo đó làm mới lại những ḍng thơ do sự vận hành của bài thơ qua ngôn từ để những thể thơ được sinh tồn với trào lưu thơ hôm nay. Cho nên chi thơ trở nên một thứ nghệ thuật cần thiết, những nối tiếp đó hầu như sống dậy qua những nhà thơ trẻ có một ư thức mới trong tư tưởng sáng tạo cũng như những nhà thơ khác vốn đă có những khuynh hướng mới, chiều sâu và bề dày của họ qua tác phẩm, họ sáng tác như khám phá khả năng thơ để t́m thấy thể chất thơ trong sáng tạo, có như vậy mới thoát ra khỏi những cố hữu, những kiềm tỏa, giới hạn mà xưa nay xem như định lệ. Những nhà thơ đương đại ngày nay coi việc sáng tác của ḿnh như một sự khai phóng, như bức phá, như giải thể để làm nên một cuộc cách mạng tâm thức revolution in consciousness, canh tân thơ mới để thơ có địa vị và chức năng sáng tạo, ngoài sự sáng tạo, bản chất thơ c̣n mang tính nghệ thuật như những nghệ thuật khác, đôi khi c̣n vượt xa hơn thế nữa. Đó là lư do dành cho nghệ-thuật-thơ có một ngôn từ để tạo h́nh ảnh và mô h́nh cho thơ. Người ta đang thiết kế thơ dưới một dạng kiến trúc tân kỳ đầy màu sắc để trở thành những thể thơ mới thời thượng.

Cho nên giữa ư thức thức tỉnh của nghệ thuật thơ khác với ư thức thức tỉnh của khoa tâm lư triết học.  Đó là động lực làm cho ư thức mănh liệt hơn để sáng tạo nghệ thuật; v́ đó là ”tâm thức và trí tưởng của ta đủ khả năng để giúp ta sáng tạo những ǵ mà ta nhận thức” (G.Bachelard) cũng từ đó nảy sinh ra ḍng thơ sáng tạo nghệ thuật, người làm thơ đối diện với cái “đẹp” và trong lúc mơ về với cái đẹp th́ lúc đó ư thức chỉ c̣n lại sự thưởng ngoạn cái đẹp trong thơ. H́nh tướng sự vật hoàn toàn chế ngự tâm hồn người làm thơ, quên hết ngoại giới xung quanh và nhường chỗ cho thi ca. Chính trong lúc thưởng thức cái đẹp trong tâm tưởng để xây dựng bài thơ th́ đó là trạng thái tâm lư thuần-trực-giác và mất hẳn ư thức ngoại giới trong trạng thái xuất thần cho một bài thơ. Thi ca c̣n khám phá ra một nhân tố khác đó là ư thức tiềm ẩn, biết t́m ṭi trong cảm hứng để khởi lên những”nguồn chưa ai khởi và sáng tạo những ǵ chưa ai có”(Nam Cao). V́ thế mà những nhà thơ mới hôm nay đă phát sinh những ḍng thơ đầy tính sáng tạo làm nên những lời thơ, bài thơ tuyệt cú. Đó chính là thơ đương đại!

Thơ hôm nay là đổi mới, thơ phải khác đời mới là thơ hay; nguồn thơ mới chất chứa tính sáng tạo, đó là vấn đề tiên quyết, giải phóng những tàn tích xưa cũ, nhai lại, thơ đổi mới có nghĩa là không quay ngược thời gian, cho nên tiến tŕnh của thơ là tiến tŕnh của xă hội; ngày nay hiện đại hoá cuộc đời cũng là hiện đại hoá bài thơ, đó là bước tiến hoá trong thơ; kết hợp giữa người làm thơ và người đọc thơ có một tư duy sáng tỏ hơn. Người làm thơ phải nhận thức hoàn cảnh để thích nghi hoàn cảnh bởi v́ ngày nay mọi sự thay đổi không ngừng, thay đổi và khám phá từng giờ phút cho nên đời sống tinh thần cũng thay đổi và phát huy. V́ vậy người làm thơ hôm nay qua những thể thơ khác nhau họ đă t́m thấy trong cảm xúc một sự bộc lộ cần thiết, đó là cách riêng cho mỗi nhà thơ. Nói chung tất cả mọi tiến tŕnh diễn đạt bài thơ có những ngôn từ khác biệt mang tính chất thời đại trong đó, hội nhập giữa tâm thức và sáng tạo để bài thơ đậm nét đặc thù cho ḍng thơ đương đại hôm nay. Dù vô thức hay hữu thức th́ cách tạo h́nh của sự đổi mới thơ hoàn toàn khác với cách tạo h́nh trong thơ cổ điển ngay cả khuynh hướng tân cổ điển (neo-classicism) đă xuất hiện ở thế kỷ XVIII là thời kỳ rực rỡ và mới lạ nhất, được coi là thời kỳ” ánh sáng” enlightenment. Cho nên lập luận nầy có tính siêu thực của ḍng thơ đương đại đi từ thời gian ư thức và vô thức để tạo nên một cái nh́n khác đời bao gồm giữa hai thực tế Vô và Hữu, Có và Không th́ lúc đó mới toàn diện một cách đích thực của tư tưởng; nhờ yếu tố đó mà tác giả của bài thơ vượt thoát ra khỏi cái mặc cảm cố hữu, ra khỏi mọi kiềm tỏa của lư trí, ra khỏi sự lập khuôn, sáo ngữ để bước vào một tâm linh siêu việt trong thơ. Cái đó là một thực tại tổng hợp giữa thực và hư mà những nhà thơ trẻ hôm nay cố gắng xây dựng để trang điểm cho một bài thơ trở nên siêu thoát và cũng chính v́ thế mà họ tạo ra được một ḍng thơ riêng biệt, một cảm nhận riêng, một cảm quan riêng, nhất là thể loại siêu thực và trừu tượng đều nằm trong cái gọi là nhạy cảm của cảm giác (the age of sensibility) kể cả các loại thơ khác như :thơ-lắp-ráp (poetry installation), thơ-đúc (poetry concrition), thơ lập-thể (cubist poetry), thơ-rờ (tangible poems) được phổ biến rộng răi ngày nay ở các nước Tây phương; mà tất cả các thể loại kể trên đều có cảm giác mới lạ và chủ kiến riêng  ḿnh; đó là cơi riêng của nhà thơ. Paul Valery: ”Nh́n thơ ḿnh như một nghĩa riêng cho ḿnh, c̣n với người khác th́ có nghĩa khác”. H́nh thức như thế được tom góm như một thứ nghệ-thuật-tŕnh-diễn-thơ (poetry art performance), hoàn toàn cách riêng. V́ vậy chủ nghĩa tượng trưng symbolism là chủ nghĩa hoà hợp giữa lăng mạn và hiện thực cho rằng; ”Thế giới hữu thức chỉ là h́nh ảnh của thế giới vô thức”. Đó là bản thể của thơ mà giới làm thơ ngày nay chủ xướng một ư thức thơ bằng cảm giác chứ không c̣n là h́nh thức miêu tả trực cảm như những trường phái thơ trước đây. V́ thế mà thơ đi từ cảm nhận nầy đến cảm nhận khác như ḍng thác tuôn chảy một cách bất ngờ và đột xuất qua cảm quan của người đọc qua từng câu, từng chữ trong bài thơ. Một tiến tŕnh thơ mới đầy sáng tạo, đẩy tất cả các thể thơ đi về phía trước của hiện thực. Một thứ hiện thực mới, tạo nét thơ riêng vừa mới, vừa sáng tạo để phá vỡ những ám ảnh, qui ước của thơ xưa, đă xen vào tâm tư họ, ngay cả tiềm thức subconscious mỗi khi họ có cảm hứng trước sự thể. Những nhà thơ đương đại, họ muốn cho ḿnh một chỗ đứng riêng không-giống-ai, một chứng tỏ khác;  nghĩa là không ngoại lai, không ảnh huởng một ”giáo điều” hay qui luật nào khác hơn, hoàn toàn độc lập trong sáng tác kể cả thơ hậu-hiện-đại (post-modern poetry), lăng mạn romanticism, siêu thực surrealism hay trừu tượng biểu hiện (abstract-empressionism)… Nietzsche nói: ”Con người luôn luôn vươn tới, đầy tính sáng tạo đừng để mất ḿnh, cái tôi hôm nay phải hơn cái tôi hôm qua và kém cái tôi ngày mai” V́ vậy mà thơ hôm nay chúng ta thường bắt gặp những câu thơ ẩn dụ trừu tượng (metamorphic abstraction) hoặc những tu từ khác để tạo h́nh và tạo tính chất phiến định. Đó là sự kết tinh trong cách biểu đạt tư tưởng bằng ngôn từ.Nietzche nói thêm: ”Nghệ thuật là đạp đổ cái cũ để xây lên cái mới” Tuy nhiên không phải chú trọng ngôn từ mà quên đi yếu tố quan trọng khác là CHỮ bởi chữ chính là lời. ÂM là âm tiết của nhạc điệu thơ, cho nên; Chữ và Âm là yếu tố chính cho một bài thơ.

Đọc thơ đương đại ngày nay cho ta một cảm giác vừa siêu-lư vừa cực-hiện-thực hyper-réaliste, ngoài ra có những bài thơ đọc lên thấy vô duyên, vu vơ, vô nghĩa nonsense thể thơ đó gọi là thơ “hồ lốn” fatrasie, v́ nhà thơ làm ra trong cảm hứng bất biến, tùy hứng trong cảm xúc lư trí cho nên câu thơ không ăn nhập vào đâu cả tợ như câu-văn-lạc-đề. Thể loại như thế chú trọng đến ngữ thuật (jeu du langage) hơn là ư nghĩa và làm cho người đọc có cảm nhận một bài thơ vô nghĩa, nhưng ngược lại thấy thú vị hơn b́nh thường, nên chi không c̣n cái gọi là h́nh thức hay tân h́nh thức, hiện đại hay hậu hiện đại mà ”Làm thơ là sự kết hợp giữa trí tuệ và ngôn ngữ” (Mallarmé) Ai đọc thơ Mallarmé đều cho khó hiểu. Nhà thơ cho rằng: ”Chữ nào được tôi dùng trong thơ trước hết chữ đó phải có tính chất thơ. Thơ tôi không phải khó hiểu chẳng qua những người yêu thơ, đọc thơ không chịu suy nghĩ để cảm nhận đấy thôi!”. Nhưng xét cho cùng dù thơ được xây dựng dưới thể nào đi nữa hay trường phái nào đều để lại dấu ấn đời ḿnh vào hồn thơ. Cho nên đọc thơ của những nhà thơ  hôm nay, ta phải hiểu một điều; dù thơ nằm dưới dạng thức nào, tất cả đều ở trong cơi phi của nó, cơi phi đó chính là cơi”vô ngôn” cái mà không-nắm-bắt-được nhưng phải khởi đi từ cơi thực; chính là sự chạm mặt với hư vô để vượt khỏi hư vô t́m đến ngôn ngữ của thi ca, t́m đến năng lực sáng tạo trong ḍng thơ đương đại và loại đi cái giả tạo không chất thơ làm mất tính đam mê của ngôn từ. Nói rơ hơn là làm cho thơ mất hồn mà xưa nay đă xẩy ra như định lệ cố hữu. Do đó những ḍng thơ hôm nay như một kết quả được soi sáng từ sự thức tỉnh bên trong của người đọc,  sự tưởng tượng giàu có của nhà thơ và những quan điểm thông thường mà họ chia xẻ và đồng hành với trào lưu thế giới. Sự diễn đạt ấy được coi như là phương cách chính yếu để làm nên tác phẩm, mục đích là tạo nên cá tính và phong cách riêng cho mỗi nhà thơ, xử dụng tâm thơ của ḿnh một cách độc đáo và độc sáng. Nhờ những kinh nghiệm đó, khả dĩ; áp dụng và làm nên cái riêng của ngôn ngữ thơ.

Thời đại chúng ta đang sống là thời chúng ta đang giao thoa giữa hai trào lưu văn hoá cũ và mới là một nhận biết thực tại giữa những ḍng thơ đang phát triển. Và cho dù xây dựng một bài thơ dưới một dạng thức nào hay một điều kiện biểu tượng nào, hẳn; những nhà thơ như hội nhập vào ḍng tư tưởng sáng tạo cho một ngôn từ của thơ mới. Cho nên chi tái diễn hay lập lại ngôn ngữ thơ, sự thật giữa ảo và thực, vắng mặt hay có mặt tất cả đều nằm trong cái toàn cảnh hiện thực của thi ca.

Kể từ thời gian đất nước đổi mới, cởi trói, thơ văn trong nước cũng được chuyển hướng, số lượng người làm thơ cũng như làm văn mỗi lúc mỗi dâng cao, lằn biên định hướng không c̣n nữa, cho nên vung tay múa bút, lao vào viết lách như cơn băo, quên ḿnh là nhà thơ, nhà văn chân chính; phá lệ, thả dàn trút hết vào cho thơ văn. Charles Bukowski: ”Ôi!thượng đế sinh ra quá nhiều nhà thơ nhưng lại ít thơ” Thơ đến dể và đi dể. -Dạ thưa ông. Một bài thơ hay khó kiếm ở lúc này. Thật như thế; bởi thời điểm tung hô, thời điểm mở cửa thị trường tŕnh diễn vi tính cho nên đón nhận thoải mái từ mọi phương hướng của văn chương v́ thế phát sinh ra lập ngôn và đẻ ra nhiều trường phái khác nhau để rồi chen lấn nhau sáng tác và cảm hứng cho có thơ với đời! Song le;  bên cạnh những ào ạt thi hứng đó cũng có một số thơ thành h́nh của những nhà thơ mới (không phải phong trào thơ mới của thập niên 30 ở nước ta). Những nhà thơ hôm nay có đất dụng vơ để phát tiết, một điều kiện thuận lợi về kỷ thuật cũng như môi trường xă hội thả cửa phát huy. Tuy nhiên những nhà thơ mới hôm nay có một tŕnh độ kiến thức sâu rộng, t́m học những khía cạnh văn chương hay những đối tượng của thơ văn. Họ tháo gở toàn bộ những tàn tích cũ để thay thế và đó một thứ nhiên liệu mới cho một bộ máy mới của thi ca, một tư tưởng vượt thoát hầu phá vỡ bức tường đố kỵ thơ văn. Họ làm thơ trong chiều hướng nghệ thuật của thơ, biến đổi mọi thi pháp khác nhau để canh tân một trường phái có chiều sâu, đó là tư duy nghệ thuật và thi pháp.

Những nhà thơ đương đại thổi vào thơ luồng gió mới để tiếp tay với những ḍng thơ khác như thơ tự do, thơ không vần, siêu thực, trừu tượng, phá cách từ h́nh thức đến tân h́nh thức, hiện đại hay hậu hiện đại thành những ḍng thơ cực kỳ sáng tạo vượt cả không gian và thời gian, vượt luôn cả bức tường âm thanh để thơ trở nên không chết (immortality) .

”Sống là vi vu theo tiết nhịp vần xoay”(Bùi Giáng).Những trường phái thơ kể trên được liệt kê là ḍng thơ khó “tiêu thụ” đối với quần chúng đông đảo. Nó trở thành cái thứ thơ-bác-học chỉ dung nạp cho thành phần có tŕnh độ rộng răi về văn hoá, tiếp cận nền văn hoá nước ngoài thường xuyên, cho nên lớp quần chúng c̣n lại đó chỉ thưởng ngoạn loại thơ nhân gian, phổ thông có vần, có vè cái loại thơ đó gọi là thơ-b́nh-dân. Nói cho ngay dù thơ diễn tả dưới h́nh thức nào, lắc léo tới đâu ngôn ngữ Việt Nam cũng dể dàng đả thông đối với người thưởng ngoạn trong cũng như ngoài nước, dần dà trở nên quen với người đọc hay người diễn ngâm. Có đôi khi thơ biến dạng như chuyện kể, truyện kể, loại thơ suông nhưng vẫn là thơ.

Thơ không đ̣i hỏi sự giải thích mà hiểu nó như nghệ thuật của thơ art without consolation. Thí dụ: Khi đọc hai câu thơ của Bùi Giáng:

Hỏi tên rằng biển xanh dâu

Hỏi quê rằng mộng ban đầu đă xa

Nghe b́nh thường, giản đơn nhưng rất biểu tượng của thể phái neo-expressionist. Vậy có cần giải thích ? tự nó đă giải thích trong thơ rồi! Cho nên làm thơ lục bát hôm nay phải là như thế, c̣n bằng không…

Câu thơ khác, làm theo thể thơ tự do không vần xen lẫn giữa hiện thực và siêu thực của Thanh Tâm Tuyền; đọc lên ta nghe được nhạc điệu của thơ:

Tôi gh́ đau đớn trong thân thể

Những ḍng sông những đường cày núi nhọn

Những biệt ly rạn nứt ḷng đường

Đọc những vần thơ 7 chữ của Tô Thùy Yên để thấy cái vô ngôn trong thơ ông và của những nhà thơ đi trước; nghe vẫn vi vu gió mát:

Kỷ niệm buông tay rú ngất ch́m

Tiếng kêu đá lở long thiên cổ

Có cần giải thích ? Không! Đó là 2 câu thơ mang nhiều h́nh ảnh siêu thực rất tuyệt đối.

Đi xa hơn một chút; đọc lại bài thơ nầy của Trần Dần xử dụng chất liệu tân h́nh thức (new formalist poetry) và chất liệu nhảy vọt (iambic-foot) trong thơ ông một cách tài t́nh và nhuần nhuyễn:

Bước lặng

tôi về cơi lặng?

một trời

tôi vẫn lạc quan đen

tôi bước lặng bên tôi

không một ai-mà vẫn bước

đều

cho đến lúc- say nâu

tôi rẽ vào phố lặng.

Đọc lên nghe như chuyện kể nhưng rất thơ. Đúng là nghệ-thuật-thơ-tŕnh-diễn.

Cho nên thơ không phải muốn nói một cái ǵ mà hiện hữu A poem should not mean but be.

***

Đơn cử một số nhà thơ đương đại với khuôn mặt trẻ và những nhà thơ ”dày dạn” có sẳn những thể thơ này, họ âm thầm sáng tác nhưng ít ai thấy được chất thơ của họ. Xin điểm qua đây: Huỳnh Thúy Kiều, Ngô Thị Hạnh, Cát Du, Chiêu Anh Nguyễn, Vi thùy Linh và Ly Hoàng Ly. Bên cạnh đó c̣n có: Vũ Trọng Quang, Trần Hữu Dũng, Linh Phương, Lê Vĩnh Tài và Từ Hoài Tấn. Những nhà thơ trên đây đă vận dụng ngôn ngữ và “chất liệu” để làm nên những bài thơ hiện thực siêu thoát. Đó là những ḍng thơ đương đại.

-HUỲNH THÚY KIỀU: Có những bài thơ mang tính thơ siêu thực, ngôn ngữ thơ đọc lên nghe mới, cái lối vận hành như thế là cả một khối óc sáng tạo, có nhiều câu đưa người đọc vào cơi mơ hồ giữa ảo và thực, đào sâu vào nội tâm bài thơ. Nhiều bài thơ khác; tác giả xây dựng thể thơ theo lối ẩn dụ trừu tượng (metamorphic abstraction) và tượng trưng (symbolization) trộn lẫn, đan kết vào nhau làm cho bài thơ có một không khí tân kỳ trong ngôn từ và giải tỏa được một tâm tư đè nặng!

Thơ HTK chú trọng tŕnh diễn nội tâm trong sự ẩn tàn của chữ và lời, cho nên ḍng thơ không dứt được. T́m đọc một trong những bài thơ của thi sĩ họ Huỳnh để thấy được nhân dáng nghệ thuật của chất thơ .                     

CHỈ MỘT ĐIỀU RẤT CŨ…

con ong bầu khoét thủng vách thời gian

tôi giữ chặt bóng ḿnh trong buổi chiều cựa quậy tiếng chim run run

mài gió

xin đừng xếp khoảng phong ba vào ngổn ngang ảo giác

chưa bật mầm sao hoa héo nhụy khuyết thềm xuân…

 

thời gian rơi rách tươm từng nhịp thở bổng trầm

ai cất vó nghiêng dáng người lệch bóng?

tôi thả giọng tôi chen giữa làn nước nhẹ tênh mấy tầng cảm xúc

trên mặt ruộng đầy lao xao hơi khói đốt đồng thơm

 

màu thời gian nhẫn nhịn đếm bước gần

tôi nhẫn nhịn đứng im đợi bờ tường dựng âm thanh khuếch băo

sông khoả bùn vẫy sóng nằm nghe mặn ṃi biển gọi

ken thật dày triệu hạt cát lắng ḷng sâu…

 

dưới những v́ sao huyền bí là đêm nhiệm mầu

ta khâu lại và rải cho đều từng mẫu trăng non vàng lép

cám dỗ thời gian hư vô miên viễn

độc thoại một ḿnh với khái niệm măn tính sự hoài nghi…  (*)

 

-NGÔ THỊ HẠNH: Trong tập thơ Rơi Ngược,toàn tập lời và âm mang một phong cách hiện thực . Đọc qua từng bài thơ, lối xây dựng chữ, nghiă như thơ của nhà thơ nữ Hoa Kỳ Sylvia Plath, một thể thơ được gọi là nhạy cảm của cảm giác; dưới dạng thơ tự do không vần có một vài bài đọc lên thấy được sự diễn tŕnh của thơ tân-h́nh-thức; bởi thơ tự do và tân h́nh thức gần nhau với lối tŕnh bày nhưng vẫn tạo được nhịp điệu trong thơ. Cho nên từ khi khởi nghiệp làm thơ cho đến nay, giọng điệu đó không thay đổi nghĩa là lối thơ hiện thực tả t́nh mang một cấu trúc dị biệt khác với lối thơ tả t́nh như đă có. Đọc bài thơ nầy hồi thi sĩ mới ra “trường thơ”:

MÊ SẢNG MƯA

đôi tay em nắng hanh hao trong suốt

đành để t́nh trôi tuột cùng mưa

 

mùa ướt đẩm từ chân cho đến tóc

hơi thở anh vẫn khóa chặt u hoài

 

em chắp nhặt từ đắng cay anh đánh mất

kết hoa dâng những nấc thang đời

 

đêm di mộng

đêm nồng nàn mê sảng

sáng nghe mưa chảy xiết xuống đáy buồn

 

sáng nghe mưa dự báo mầm xanh ấy

ngỡ chính em đương là…

Cái âm vang trong thơ NTH là một âm vang hiếm hoi và tân kỳ, đọc sâu thấy được cái xa xưa của thơ cũ không c̣n vướng mắc; họ thật sự lột xác!

 

-CÁT DU: Nhà thơ chuyên xử dụng một loại thi ca ngẫu hứng không suy tư (It is poetically Irrational) đọc đi đọc lại,t́m thấy được ngữ điệu như văn xuôi (prose) và đến gần với thể thơ đếm bước (iambic-foot) đọc nhiều lần cho ta một cảm giác hào sảng của loại thơ mới hôm nay,chủ đích miêu tả trung thực hiện tại; rất là “realism”. Đọc 2 bài thơ dưới đây của Cát Du để thấy ḍng thơ mới đầy sáng tạo của nghệ thuật làm thơ mới:                   

CHIỀU

 

Chiều sắp khóc mà anh chưa về

Thấy không?

Con mắt chiều đỏ hoe!

 

Bửa nay trời lập đông

Chiều một ḿnh

Chiều run

run lắm!

Em hôn lên má chiều ram rám

Nước mắt chiều chảy quanh

Như chiều

rưng rức!

 

                    

NỤ CƯỜI TÁI SINH

Người đàn ông cho em nụ cười vào buổi chiều nhá nhem

Cái chiều mà ngỡ nụ cười sẽ vĩnh viển tắt trên môi em

Một người đàn bà đang ngă rạp

Anh-Người đàn ông đă thổi thốc vào em bằng cái nh́n cháy

lửa

Tê dại loăng ra

Nghi hoặc loăng ra

Nụ cười tái sinh từ lửa

Nụ cười ấm áp

lúc rạng đông ./.

 

-CHIÊU ANH NGUYỄN: Thơ  Chiêu Anh Nguyễn mang nặng chất tư duy nghệ thuật về thi pháp, một biến tŕnh thơ, đưa thơ vào những giai điệu khác nhau, nhiều bài thơ làm theo thể thơ tân-h́nh-thức, mặc dù thiết kế một bài thơ theo thể thơ tự do không vần. Bài thơ “Chông Chênh” một lối thi pháp của thơ nhảy vọt và tân h́nh thức ”trá h́nh”  đọc rồi mới thấy thơ CAN chứa đựng cái dáng nghệ thuật thơ (body art) của loại thơ- tŕnh- diễn nhiều hơn là  thể loại thơ b́nh thường. Xem sự sắp xếp thơ của Chiêu Anh Nguyễn như sau:           

CHÔNG CHÊNH

trên triền dốc

tôi

âm thầm đá cuội

vội vàng lăn

 

trong khe hở tạo hoá

linh hồn hằn vết

rách toang…

 

nơi chỗ trống…

cựa ḿnh

lách cô đơn

 

lặng lẽ

nhận về thanh thập tự

không ngắn, không dài

đủ một chiếc cầu

nối miền tội lỗi

bờ kia

một t́nh yêu

ảo ảnh

 

trên triền đồi

thả những giọt nước mắt

lăn theo hoài nghi

đam mê…

 

niềm đau

như vô vàn nụ hôn

sau cuồng nộ

t́nh yêu

mang h́nh pha lê

tan chảy

giữa bầu ngực dịu dàng

em.(*)

 

Nếu bài thơ nầy viết theo thể thơ xuôi của tân h́nh thức ta đọc như thế nầy, khỏi phải nhảy vọt. Tuy nhiên giữa hai biến tŕnh đó vẫn tạo được nét đặc thù của thơ Chiêu Anh Nguyễn trong vóc dáng hậu hiện đại.

(trên triền dốc tôi âm thầm đá cuội vội vàng lăn.

trong khe hở tạo hoá linh hồn hằn vết rách toang…

nơi chỗ trống cựa ḿnh lách cô đơn

lặng lẽ nhận về thanh thập tự

không ngắn, không dài đủ một chiếc cầu nối miền tội lỗi một t́nh yêu ảo ảnh

trên triền dốc thả những giọt nước mắt lăn theo hoài nghi đam mê…

niềm đau như vô vàn nụ hôn, sau cuồng nộ t́nh yêu mang h́nh pha lê tan chảy giữa bầu ngực dịu dàng em.)

Dưới dạng iambic-foot hay new formalism poetry đều là những bài thơ hay và mới đúng như ḍng thơ đương đại được tŕnh bày.

 

-VI THÙY LINH: Thường làm thơ theo thể tân-h́nh-thức,trong một tâm thức hiện thực(realism) thơ tân h́nh thức là loại thơ mới hơn thơ mới;VTL nằm trong môi trường ấy,tiếng thơ của tân h́nh thức lan tỏa dể dàng,loại thơ này làm cho tốc độ đọc nhanh hay chậm tùy theo câu thơ dài hay ngắn,thường hay vắt gịng(enjambment) để làm nên nhịp lạ như thường thấy ở loại thơ-không-vần.Một sáng tạo có ư thức,nghĩa là biến dạng thơ theo thể nầy thành thơ-văn-xuôi của thơ tự do hay thơ không vần chỉ có khác về nhịp điệu của thị giác.Trí tuệ của VTL là một sáng tạo mới và biết chọn “con chữ”trong thể thơ tân h́nh thức một cách tuyệt diệu; đọc lại xem có phải như VTL đă làm như thế không?

                   

ĐÊM CỦA TÍM.

Thế là chúng ḿnh có ngôi nhà xinh với giàn hoa đậu biếc

Giấc mơ tím lan toả không ngừng, nhuộm đôi môi em

Nhuộm những đêm hoan say

V́ đôi môi mở đón Anh, mà nụ hoa khắp nơi hé cánh

Mùi thơm của lũ trẻ bụ sữa phủ ngập  không gian

Anh- em cùng các con hoá thành những giọt tím bay giữa ba chiều sự sống.

                       

TAN BIẾN

Cám ơn Anh đă dám đón nhận một t́nh yêu lớn và tặng t́nh yêu lớn cho em

Thế giới c̣n rất ít người dám coi t́nh yêu là tối thượng, sống kiệt sức và tái sinh cho t́nh yêu bằng vị tha dâng hiến

Tiết tấu chậm

Đôi ta

         tan biến

                       vào nhau .

Vi Thùy Linh làm đúng chức năng của người làm thơ tân-h́nh-thức. Đọc lên cho ta một cảm nhận về thơ mới hôm nay; không sáo ngữ, không trau chuốc, thể thơ ăn-chắc-mặt-bền mà chúng ta thường gặp ở loại thơ này.  Điều đó không phải là loại thơ dể dàng xử dụng. Nếu thiếu vắng ngôn từ dành cho tân-h́nh-thức.

 

-LY HOÀNG LY: Nhà thơ trẻ nhưng đa dạng trong bộ môn nghệ thuật, vừa thi sĩ, họa sĩ và tạo h́nh (điêu khắc). Thơ LHL làm bằng thể thơ siêu-hiện-thực cho nên không dẫn nhập cụ thể; nó có tính chất trừu-tượng-biểu-tượng abstract-empressionism chính v́ thế mà thơ làm theo kiểu nầy cốt là tạo được sự thưởng thức nghệ thuật thơ (art appreciation) và đă làm cho người đọc thấy được cái vô nghĩa (nonsense) trong thơ nhưng không lạc khuynh hướng, tợ như văn của Anton Tchekhov (Nga) và Katherine Mansfield (Anh) viết truyện không có câu chuyện mà vẫn là truyện hay. Thơ LHL nằm ở tụ điểm đó, có màu sắc  của thể thơ nghệ thuật tŕnh diễn (the poetry atr-performance) nhờ những sáng tạo nghệ thuật, LHL đem thơ trực diện với thể loại thơ-lắp-ráp (Installation-art poetry) mà thi sĩ đă thực hiện những năm trước đây. Thơ và tạo-h́nh-thơ (thơ lắp ráp) của LHL là một sáng tạo mới cho thi ca ngày nay. Đọc bài thơ nầy của người nghệ sĩ trẻ để thấy được chân tướng của ḍng thơ đương đại hôm nay:

                    

ĐÊM TRONG VƯỜN

Vườn co vào lá

Hoa ôm đêm đến rũ xác

Em đi nhặt xác hoa

Bước vào vùng trăng

Toàn thân lấp lánh dịu dàng

Cả một ước mơ gởi vào vườn đêm

Cây hoàng lan ch́a cánh mềm

Buốt ánh mắt em

Hương hoàng lan xanh óng dưới trăng

Buốt hơi thở em

Vườn co vào lá

Đợi đêm lên tới ngọn

Lên tới ngọn của đêm

Lấy xác hoa

Xoa vào trăng

Trên ngọn đêm.

                    

ĐÊM và ANH

Đêm đă tràn vào từng sợi thủy tinh của chiếc đền vàng

Và khe khẽ hát

Để em không thể nh́n thấy anh

Bằng thính giác.

                     

NGƯỜI ĐÀN BÀ và CĂN NHÀ CỔ

Mắt tṛn trong vắt

Đi một ṿng ngơ ngác

Sờ tay lên ḷ sưởi và cửa sổ và tường và mọi thứ ẩm mốc

Thấy tay đầy vi khuẩn

Những bài thơ trên được xây dựng theo thể siêu-hiện-thực surrealism mà có đôi điều nằm trong tiềm thức gợi nhớ,khó mà mô tả tuờng tận something that is ineffable chỉ c̣n cách lấy ngôn từ thay ư nghĩa của thơ. Đó là sinh thái mới của ngôn ngữ thơ đương đại.

Song hành với nữ phái, thơ nam phái thường có những lời thơ ẩn dụ để che cái t́nh yêu sâu kín trong ḷng dù họ diễn tả dưới mô h́nh nào đều chứa ít nhiều t́nh cảm nồng nàn trong thơ t́nh yêu, t́nh người, t́nh quê hương và t́nh yêu thiên nhiên luôn luôn dính liền trong thơ của họ, bởi qua mấy mươi năm không chiến tranh ḷng người dịu xuống, tính phẩn nộ trong thơ văn cũng mờ nhạt theo thời gian chỉ c̣n lại trong kư ức như hoài niệm và mượn hoạt cảnh đó để làm nhân chứng cho t́nh yêu và nhờ đó mà sáng tác được nhiều đề tài khác nhau, tạo được một ngôn ngữ mới cho thơ, những bài thơ sau nầy có chất lượng của các trường phái thơ nhưng hoàn toàn độc lập theo cảm quan của riêng ḿnh, sáng tạo được cả âm và lời để bài thơ trở nên độc đáo, chân phương hơn, những nhà thơ hôm nay nh́n thơ là một thực thể; như để biện minh một thứ t́nh yêu hiện hữu trong đời sống hằng ngày mà họ đă đối diện với thực tại. Đó là nguyên nhân để cho nhà thơ thể hiện một sự đúc kết hiện thực trong thơ ḿnh, một sáng tạo vượt mức. V́ sáng tạo của thi ca là một ư thức thức tỉnh, do từ cái nh́n của nhà thơ, đó là cái nh́n khám phá, khám phá nội tâm qua sự khám phá ngoại ǵới, hai yếu tố đó đă đưa bài thơ đến tuyệt đỉnh của cảm thức. Nhưng bên cạnh đó họ vẫn giữ được tính đa cảm sentimental trong thơ, dù dưới thể loại khác nhau nhà thơ luôn luôn sống từng chữ thơ của ḿnh để có phong cách riêng chớ không phải lấy thơ để trang điểm thơ hay tạo hiện tượng. Nói cho ngay; những nhà thơ nam giới đă đưa hồn thơ của ḿnh vào một thế giới riêng tư đầy sáng tạo với chất liệu substance đó làm cho thơ trở nên mới, nhưng trong cái mới chính là ngôn từ thơ; đó là yếu tính nghệ-thuật-thơ-mới hôm nay.

 

-VŨ TRỌNG QUANG: Thường xử dụng ngôn ngữ ”lập ngôn” trong thơ có nghĩa là chữ đối chữ ngay cả tựa đề bài thơ tác giả vẫn dùng cái lối tu từ đó. Mới đọc thơ VTQ thường làm cho thị giác khó chịu bởi thơ dựng theo thể cực-hiện-thực (hyper-réaliste) làm cho những bài thơ của VTQ đi vào thể thơ-vô-nghĩa (nonsense) chính thể thơ nầy đă xuất hiện vào thế kỷXII, XIII ở Pháp, một thể thơ được gọi là thơ-hồ-lốn (fatrasie) chính cái hồ-lốn, tạp-lục như thế biến mỗi bài thơ có giọng thơ bâng quơ vô nghĩa; đây không phải là thể thơ dể thiết lập hay làm nên, nó đ̣i hỏi một sự sáng tạo vô cùng của nhạy cảm để đủ năng lực đuổi theo “con chữ”. Gần đây Anh, Pháp lập ra phong-trào thơ VÔ NGHĨA, họ cho rằng những câu thơ, bài thơ có ư nghĩa chẳng ăn nhập vào đâu cả mà trở thành sáo ngữ; họ chỉ chú trong vào ngữ thuật. VTQ tài t́nh trong ngữ thuật đó và tạo được cái riêng của ngôn ngữ thơ hôm nay. Cho dù có những vần điệu mơ hồ, tối nghĩa (ambiguous) nhưng vẫn để lại dấu ấn sâu sắc của cái lạ trong bài thơ. Đi sâu vào loại thơ nầy để thấy chất liệu của nó:

                                         

SÁNG TẠO

Vô vàn bước đi không vạch hết con đường

phía trước sương mù trắng xóa hiện thực

sỏi đá có chịu trách nhiệm về ḿnh

trên gồ ghề biến đôi chân đau đớn & chai sạn

 

Dự định phải vượt vị trí thời gian

khởi từ chồi non khởi từ tro than

sứ mạng ánh sáng truyền ba động không nơi trú ngụ

lẽ nào đền đài cổ kính truyền cấu trúc trước giờ động thổ

 

Nếu hạnh phúc của tia mặt trời

chỉ khúc xạ và sáng rực ở lăng kính

nếu cảm xúc hoa giả sung sướng mọc dài trên đường đi tới

tôi thách đối với chính tôi

 

Tôi sợ lập lại với chính tôi

không thoát được.(*)

 

                                    

 ĐỘ NGHIÊNG BÓNG TỐI

Anh thấy h́nh con tàu thơ em mắc cặn cao nguyên

tự do nghiêng

vị đắng cà phê ban mai ban mê thất bại

đầu tàu cố vận ḿnh vận hành không mất phương hướng

lớp lớp hoa hướng dương che màu mắt mặt trời

ngôi nhà trung tâm trên bờ không thèm nghe thấy (*)

Từ thể thơ vô-nghĩa đó, thơ VTQ  đúng là thể thơ siêu nhiên (supernatural) cho một trong những ḍng thơ đương đại hôm nay. Quả không ngoa!

 

-TRẦN HỮU DŨNG: Xây dựng một thể thơ khám phá vào thơ hiện thực ,bằng những cách trở khác nhau;bằng những h́nh ảnh khác nhau; người ta cho đó là chủ nghĩa h́nh tượng (imagism). Trong thơ THD có bài trộn lẫn giữa những thể khác nhau như siêu-thực (surrealism) và trừu tượng biểu tượng (abstract empresssionism) làm cho bài thơ ngắt gịng đột ngột và làm cho bài thơ trở nên siêu-lư của những thể loại thơ như thế nầy. Thơ THD mang nặng tính chất ẩn dụ và tŕnh-diễn-nghệ-thuật đó là sáng tạo của ngôn từ (art is a metaphor of the creation). Tạo cho ḿnh một dáng thơ có chiều sâu và tiềm ẩn. Nhờ những biến thể đó thơ THD trở thành thể loại thơ xuôi, xuôi hơn cả thơ tân-h́nh-thức (!). Trích đoạn những bài thơ tượng trưng để t́m thấy thể loại mới nầy trong thơ Trần Hữu Dũng.

                                         

 THANH TẨY

Chỗ em nằm, những vết lơm gợn đường cong bất tuyệt

Và hơi thở gió rướn ḿnh

Trườn qua đồi, núi, hẻm vực đê mê

 

Vây bủa các toà buynh duynh ngất nghểu

Đôi t́nh nhân chọn căn pḥng nhỏ làm tổ ấm

Gù nhau suốt mùa hè đỏ lửa

 

Ráng chiều soi gương mặt em hồng rạng rỡ

Hàng cây bên đường xoè bung tàn lá

Thủ thỉ lời phủ dụ chết người

 

Khúc hát t́nh yêu ban đầu trở lại

Thanh tẩy mạch nguồn t́nh cảm tuôn trào

Dạy anh cách sống mới-t́nh yêu&khát vọng.(*)

                                       

Ở SAPA

nhiều lần anh lăng mạn

Hái tặng em

Cành hoa tuyết

Đính hàng chuỗi ngôn từ yêu em, yêu em

Lấp lánh.

(Trong THD.Hai Bài Thơ Mới)(*)

                                       

TẮM TRĂNG

Trộm nh́n ngực trần em lúc tắm trăng-thuở xuân th́ chưa ong bướm dập d́u quyến dụ

Mùa trái chin căng tṛn,thơm thơm hương thiếu nữ đến giờ cơn xoáy động luôn làm anh run rẫy

Vị ngọt bất ngờ đằm đằm ngày tháng,khiến anh ngây ngất nhớ

Suối khe nguồn nước mát lành chảy tràn qua giấc ngủ,khi lúc đầu vào bức tường gai góc cuộc đời toé máu vẫn mơ hoài

Chỉ một đêm em tắm,trăng bên vườn nhà tṛn vành vạch suốt đời anh.

(Trong: Thơ Tháng Năm)  (*)

Nhà thơ đă diễn tả trọn vẹn chức năng của thơ mới hôm nay;mặc dù “thơ tân-h́nh-thức là thơ mới hơn thơ mới” (Khế Iêm). Trần Hữu Dũng đă chứng minh điều đó một cách trung thực của ḍng thơ đương đại.

Vào vườn thơ ta bắt gặp nhà thơ xử dụng nhiều thể loại khác nhau: thơ tự do không vần, thơ xuôi đều luồng vào một sinh khí siêu thực, trừu tượng đem lại nhiều ấn tượng cho bài thơ, tạo được lời, âm của bài thơ thành một thi pháp mới lạ .

 

-LINH PHƯƠNG: Mang nặng tính thơ nghệ thuật tŕnh diễn (poetry art- performance) mặc dù nhà thơ duy tŕ thể thơ lục bát và thơ bảy chữ, có nhiều bài thơ 6/8 đă biến thể thành thơ đếm bước (iambic-foot) nghe có duyên lạ! Dù xây dựng dạng thơ tân cổ điển (neo-classicalism) hay thơ cũ có niêm luật, bằng trắc chặt chẽ nhưng vẫn giữ được phong vị của thơ mới. Thơ LP một thời đi vào thời thượng của thi nhạc điều ấy chứng tỏ ḍng thơ trữ t́nh của Linh Phương luôn được đón nhận và được sắp xếp như một loại thơ hiện thực (realism) và  lăng mạn (romanticism) một thể thơ được gọi là nhạy cảm của cảm giác (the age of sensibility) là những thể thơ ưa chuộng dành cho những tâm hồn đa cảm, chính cái tồn tại đó đưa tác giả vào trào lưu đương đại. Có nhiều tác giả làm thơ lục bát, ngủ ngôn, thất ngôn, bát cú (ngôn) rất sành sỏi nhưng LP được cái biết dụng ngôn làm cho thơ đi vào cơi siêu thoát. Một thể thơ thông thường nhưng phải có cảm xúc mạnh mới phản ảnh được những ḍng thơ như thế. Đọc những bài thơ vần điệu mới thấy được chất thơ-t́nh-lăng-mạn của thi sĩ, mới thấy được cái vượt thời gian mà LP để lại.

                                        

NÍU MÂY NH̀N XUỐNG

Níu mây nh́n xuống ngực gầy

Nghe thơm hương tóc những ngày thanh xuân

Dẫu mai văn lục phai hồng

Mơ ba vạn kiếp t́nh nồng chưa tan.

                                                                                   

THẬT GẦN BÊN NHAU

Nghiêng vai mà thấy thật gần

Bên nhau nắng xế đă tàn chiều hôm

Một ṿng tay-một nụ hôn

Ái ân ngày cũ vẫn c̣n thiên thu.

                                        

KỶ VẬT CHO EM

Em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời mai mốt anh về

Mai trở về chiều hoang trốn nắng

Anh nh́n em-anh cố sẽ quên

T́nh nghĩa cũ một lần trăng trối.

(1970)

                                        

HƯƠNG ÁO TÍM

Một thời sau nữa xa vời vợi

Chim hót bên song tiếng ngậm ngùi

Mới hiểu quê người em vẫn đợi

Mùa thu biền biệt phấn thu vàng

Sóng sánh t́nh yêu thuở dại khờ.(*)

Ngôn từ và chữ nghĩa trong thơ LP là một hợp chất đầy sáng tạo của lối dụng ngôn thơ.

 

-LÊ VĨNH TÀI: Làm thơ theo cách riêng của ḿnh, không đứng vào hàng ngủ thơ, không trường phái, không chủ nghĩa, không thi tứ, không vần điệu; tác giả gọi đó là thơ của thơ. Tưởng rằng lạ, nhưng không; thơ của LVT là thơ hiện sinh chủ nghĩa (existialism) có những bài thơ tác giả làm như “thơ-truyện”, trong thi ca gọi là thơ xuôi nghĩa là thơ bị lôi cuốn bởi cảm xúc tri giác, một phần đưa sự vật hiện hữu vào tri thức, đi thẳng vào nhận định thơ. V́ vậy nhà thơ đang muốn truyền hưởng lẽ sống trong sự tiếp xúc sự vật ngoại giới để xâm nhập vào thơ. Thể tạng đó được khám phá đồng thời với khám phá vũ trụ mơ về thực tại của hiện sinh tức mơ về với hiện hữu, v́ chính cái hội nhập giữa hai trạng thái nội giới và ngoại ǵới để phát tiết những ḍng thơ vừa mang tính siêu thực vừa mang tính hiện sinh. Descartes nói: ”je pense, donc je suis” cái suy tư của tác giả là hiện hữu, đó là cái nh́n tâm thức để tạo nên nguồn thơ do chính ḿnh nghĩ tới, là ngôn từ của thi ca mà Lê Vĩnh Tài đă xử dụng một cách triệt để. Trong tập thơ THƠ HỎI THƠ, ṛng ră 50 bài thơ như 50 thể “truyện ngắn”. Trích đoạn trong tập Thơ Hỏi Thơ để giảo nghiệm ư thức của nhà thơ hiện sinh nầy muốn cảm xúc ǵ với thơ, để có được ḍng thơ mới hôm nay:

                                          

THƠ I

có một bài thơ không có chữ, không có ḍng nào, chỉ những kư hiệu @%^&#$$$ và được gọi là thơ cụ thể

trên lư thuyết con người ta có thể không có miệng (câm), không có tai (điếc), không có mắt(mù) và cũng là những con người cụ thể 

chỉ những người không có tự do (tù) th́ không thể là người cụ thể, v́ ngoài việc hít thở ra, ta không c̣n biết ǵ về họ.(*). Đỡ lo

(*)xanh xanh lá thuộc bài ơi

từ em áo trắng rong chơi không về

(tức là chưa biết khi nào về)

                                          

VIẾT CHO NGƯỜI

ngày tháng đă chiêm bao chưa

quay lưng c̣n chưa ǵ nữa

dốc vẫn c̣n dốc chưa dài

đi về chưa trong cơi nhớ

 

chưa đốt điếu thuốc đầu ngày

khói vẫn chưa làn khói trắng

lặng lẽ như mây bay chưa

ta ngồi như chưa câm lặng

 

tít tắp một nụ chưa cười

xa thành xa chưa thăm thẳm

nước mắt ḥn đá lăn chưa

đêm thành đêm chưa thức trắng

 

đă xa thành chưa thăm thẳm

người đă thành mù khơi chưa.(*)

 

Nói tóm lại thơ Lê Vĩnh Tài có cách riêng của Lê Vĩnh Tài nhưng rồi nó cũng nằm trong âm vận của thơ xuôi và thơ vô thức tức chủ-nghĩa-vô-nghĩa (nonsenselism) mà rất thịnh cho ngày nay. LVT có thực sự đại diện chủ nghĩa này cho thơ đương đại Việt Nam?

 

-TỪ HOÀI TẤN: Làm thơ ở tuổi mới lớn với tâm thức tràn đầy hiện thực, lớn dần với thời gian thơ; THT chuyển sang siêu thực và tượng trưng. Tác giả xử dụng ba thể loại trên một cách nhuần nhuyễn giữa ư và lời tạo một không gian ngôn ngữ đa dạng không khác ǵ thơ của Emily Dickinson và Elizabeth Bishop(Hoa kỳ) thường hay xử dụng những thể loại như thế và chính trong cái formalist, surrealism và symbolism đă đưa nhà thơ thấy được sự nhiệm mầu của siêu h́nh; cho dù THT  làm thơ lục bát, thơ 5 chữ, thơ 7 chữ hoặc thơ xuôi vẫn để trong thơ những ngôn từ mới lạ, những ḍng thơ đó là ư thức sáng tạo của ngôn ngữ thơ, nhờ vào sự vận hành chữ nghĩa mà tạo nên những thi pháp trong thơ của Từ Hoài Tấn.

Đọc lại những bài thơ của THT để t́m thấy chất liệu (substance) mà nhà thơ dùng trong thơ của ḿnh dưới những góc độ khác nhau:

                                        

HOÀNG HÔN NHỚ NẮNG

 

Nắng chiều chia nửa cho tôi

Một phương là tiếng môi cười vô thanh

Một phương là nỗi ngọn nghành

Âm vang ngày mới nắng hanh lối về

Ráng chiều nửa ngọn mân mê

Mai về dầu có phương quê đợi chờ

 

Tôi chia nửa nắng cho người

Hơ t́nh cho ấm một thời rét băng

Tôi chia tôi chút nắng tàn

Một ngày xa bước chân nàng mù khơi

 

Nắng chiều chia hết cho tôi

Ngày mai nữa lại chờ người ấy chăng?(*)

                                          

HUẾ CỦA NHỮNG MUÀ XUÂN

Hàng phượng đỏ ở Nội thành thường vẫn nở sớm trước ngày hè

Những người yêu nhau thường có lư do để gặp nhau trong một ngày xuân muộn

Con đường dài và cuộc t́nh chung

Những lời nguyền khắc trên vách tường thành xanh rêu

                                           

KHÚC SINH CA

Vác thanh gươm t́nh ái

Ṿng đấu trường cô đơn

Ta cùng ta địch thủ

Măo vinh hiển ta tṛng

Ba thể thơ ghi trên của Từ Hoài Tấn có ấn tượng đậm nét trong thể hiện thực, siêu thực và  tượng trưng cũng đủ nói lên sự góp mặt trong những ḍng thơ đương đại ngày nay.

 

                                                           ***

 

Thơ nằm dưới dạng nào, trường phái nào, thể thức nào, nhất thiết phải là sáng tạo, đó là vận hành  của trào lưu thi tứ hôm nay cũng như bất cứ ở thời đại nào, dù rằng thơ tập trung trong mảng xuất thần của trí tuệ (mind) và từ đó biến đổi ra thi pháp (versification) mới cho thơ và phát tiết những ngôn từ vốn đă nằm sẳn trong tiềm thức, gây nên khi giao hợp với cảm hứng giữa ngoại quan và nội quan tạo được một tâm thức sống động, cái sống động đó biến thể thơ qua những dạng thức khác nhau của các trường phái khác nhau… Đó là bản thể tồn tại trong trào lưu thơ đương đại hôm nay. Do đó muốn hội nhập vào ḍng tư tưởng nầy người làm thơ đ̣i hỏi một cảm nhận trực giác để thơ đi vào nguồn mạch của sáng tạo một cách đích thực như thể đóng vai tṛ bảo vệ thơ góp mặt giữa đời này một cách phong phú và mầu nhiệm bởi thời đại chúng ta đang sống là thời đại của tung hô, tŕnh diễn, thách đố giữa những tiến bộ kỷ thuật mà làm hư hoá vẻ “lộng lẫy”của thơ và liệu thơ có c̣n chức năng thơ để “nhâm nhi”cái tuyệt vời của nó ? hay là nhu cầu làm thơ cho có mặt với đời mà đánh mất đi bản thể của thơ. Bởi nhà thơ sống với “con chữ” của ḿnh, họ cân nhắc, đắn đo  từng câu, từng gịng để thành thơ chớ không phải thơ là những tạo vật để trang trí hay thời trang của phấn son! Sợ những tạo vật đó làm mất chất thơ và “sản xuất” ào ạt thơ làm cho thơ trở nên tạp nham, hồ đồ giữa một thị trường văn hóa không có chứng từ; một thứ phi-văn-hoá không c̣n tính siêu thoát của thơ và tính đương đại thời thượng.

Giới thiệu một số nhà thơ đă xuất hiện trong những năm gần đây cũng như những nhà thơ kỳ cựu trước và sau thời gian đổi mới văn hoá; nghĩa là họ “được phép” phát huy ḍng sáng tạo của họ, nhờ đó nhiều nhà thơ vượt ra khỏi khuôn phép của ngôn ngữ thơ cũng như ngôn ngữ văn chương, họ không c̣n ngại những ước lệ cũ đă làm suy thoái nguồn sáng tạo của họ; đó là khuynh hướng đổi mới tư duy toàn diện kể cả sự đổi mới cho chính ḿnh. Chúng tôi đưa ra hai thế hệ, một thế hệ trẻ nữ phái và một thế hệ “lăo thành” nam phái để độc giả khắp nơi nhận định những trường phái khác nhau với cách vận dụng khác nhau của mỗi nhà thơ và thấy được những ḍng thơ đương đại hôn nay sánh vai ngang ngửa với văn đàn thế giới nói chung và văn thơ Việt Nam nói riêng.

Bài viết nầy chỉ là nhận định hạn hẹp trong một suy tư hạn hẹp. Mong vậy! 

 

VƠ CÔNG LIÊM  ( c.ab cuối 5/2010)

_____________________________

 

Sách tham khảo:

-(*)http://www.vanchuongviet.org

-Tân H́nh Thức.Khế Iêm.NXB Văn Mới USA 2003

-Tạp chí Hợp Lưu#91.2006

-Writing Metrical Poetry (Contemporary poetry) by William Baer. Writer’s Digest Books USA copyright.2006

-Three Genres by Stephen Minot. Pearson Prentice Hall.USA 2007

-La poétique de la Rêverie .Gaston Bachelard.P.U. de France 1960

-La poétique de l’Espace. Gustave Flaubert P.U.France 1960

    

 

 

trang vơ công liêm

art2all.net