vơ công liêm

 

PAUL ELUARD

                                                         NHÀ THƠ KHÁT VỌNG

 

Paul Eluard - 1930

                                                                       

     Xưa nay chúng ta chỉ biết Eluard là nhà thơ trữ t́nh, một nhà thơ siêu thực của Pháp; ông là một trong những thi sĩ đương đại thời bây giờ, bên cạnh những gịng thơ lai láng đó ông tiếp nhận một biến thiên xă hội, đẩy ông vào một trạng huống bức xúc, chôn vùi hoài băo mộng mơ của nhà thơ, nhưng không phải tất cả tác phẩm của Eluard dễ cho ta tiếp cận lối vào con đường thi tứ của ông. Có chăng chỉ là cảm nhận đơn phương hoặc một vài khiá cạnh khác trong thơ Eluard. Thấy ở đó những lời thơ mộng mị, những trau chuốt nhẹ nhàng trong thơ của ông chứ không thể thấy những uẩn khúc, tiềm ẩn trong đó hay có thể đây là một lối biến thể, một phá cách mới của nhà thơ(?). Mà lâu nay chúng  ta có một ư niệm nhầm lẫn cho Eluard; nhờ những luận cứ trong ’siêu thực’của ông mà nẩy sinh  ở giai đoạn cuối với những câu thơ bất hủ và được xem như văn thơ hàn lâm dành cho học đường ngày hôm nay.

Thi ca của Paul Eluard chứa đựng một chất liệu năng nổ và sáng tạo, được chia ra làm hai hoàn cảnh khác nhau: những tác phẩm của ông người ta khám phá được đặc chất của trường phái đa-đa (dadanist) và trường phái siêu thực (surrealist), hai thứ nêu trên hoà nhập vào nhau ở những năm 1919-1938 và hầu như chứa đựng truyền thống chất hiện đại và hậu-siêu-thực, tiếp nối sau 1938-1952. Thời kỳ cuối cùng của Eluard là thời kỳ xót xa với t́nh yêu và cạnh đó lại vướng vào con đường chính trị cao độ đưa ông vào một tâm thần bất ổn, choán phá một tư duy khát vọng của thi nhân. Thật như thế! Tập thơ đầy kinh ngạc và kỳ diệu ’Last Love Poems / Derniers poèmes d’amour’. Đó là những T́nh Thơ Sau Cùng được sáng tác trong những năm 1946-1951, cho chúng ta một ư tưởng mới, một kỹ thuật điêu luyện, tài t́nh của một nhà thơ dày dạn, giàu kinh nghiệm, đem lại cho chúng ta một khả năng tham dự vào vũ trụ thi ca và hiểu được phần nào  tại sao Paul Eluard* nắm được niềm tin yêu của ông khắp toàn cầu.

 

Thơ là cơi phi, không thể định nghĩa, không thể giải bày; nó nằm trong dạng thức siêu nhiên, nó đầy đủ nhân tố để phát nguồn từ tâm thức, nó lay chuyển tư duy, nó khuấy động trí năng để từ đó thơ trở thành huyền nhiệm của thi ca, một đam mê ma túy thơ và rồi thơ biến thái qua nhiều ngôn từ, qua nhiều trường phái, tất cả nằm trong qui tŕnh của thơ. Chẳng mấy ai có thề biết được tôi / Tốt hơn người biết lấy tôi(thơ).  On ne peut me connaitre/ Mieux que tu me connais (trong Poeme 1935-36) Và từ đó thơ trở thành một thứ ngôn ngữ của tiếng hát, một thứ ngôn ngữ được chấp nạp với hoài vọng, dù cho trong khi đó có một ít tuyệt vọng.”Language that sings, language charged with hope even when it is desperate” (trong Eluard, ’Oeuveres complètes’). Lời lẽ đó chính là lời yêu cầu tha thiết của Paul Eluard mà ông đă trút vào đó những lời ca vang vọng trong tập T́nh Thơ Sau Cùng. Đối với Eluard, thi ca có thể là tiếng nói của nhân loại: ”con người, kĩ nữ, con chim cô độc”. Vậy th́ ai đă mở màn những trang thơ t́nh như thế? Hay đă có trong tay chúng ta! Tiếng hát của thơ sản sinh ra thế giới. Tiếng nói của nhà thơ không thể dập tắt, v́ đó là cột trụ chung cho những người viết và làm thơ. Để đồng ḷng với Eluard; thi ca luôn luôn là: ”kẻ chuyên chở một tri thức uyên thâm mẫn cán, một mầm mống bản năng thiên bẩm, một ḷng trắc ẩn trong nhu cầu của đời sống” (the bearer of a profound intelligence, of reason rooted in instinct, in sensitivity, in the need to live).(trong Oeuvres complètes/ Complete work). Nếu nhà thơ van xin cái chết th́ đó là lối thoát cho họ ra khỏi cái đau đớn, ra khỏi hiểm nguy trong thực tại đang sống.

T́nh yêu được soi rọi trong những vần thơ sau nầy của Eluard là những thể thơ khó hiểu trong lúc thi sĩ phải đối đầu với những bi kịch cá nhân, sau thế chiến II (1946) mà phải dựa qua ngôn ngữ thi ca để kiếm sống. Thơ của Eluard chứa ’nhạc ngữ’ nhiều hơn, mỗi bài thơ có ư nhạc đi theo nhưng cũng có những bài thơ mang theo nỗi buồn, nỗi đau đó như đôi chân trần vượt qua lằn biên của ngôn từ, như diễn từ kêu gọi, mà mỗi lần được trút ra từ uất nghẹn tận đáy ḷng, hiện diện của thi nhân là tiếng thơ nhưng không là tiếng nói giản đơn của một cá nhân, ở đây là tiếng nói của con người đang đứng trước cảnh ngộ đau thương và được coi như sự đè nén, ép buộc trong những vần thơ bi thảm cổ lỗ sĩ -ancient tragic verse- Paul Eluard t́m thấy t́nh yêu một lần nữa trong đời ông. Eluard chuyên chở đến chúng ta những cảm thức vững vàng và thích đáng ở một tấm ḷng đầy ngạc nhiên và kỳ diệu.

Trong  4 tập thơ sau cùng đều nói lên cá tính của con người đối diện với bi thảm :

Eluard sống êm đềm hạnh phúc bên vợ (Nusch), tưởng đời đối đăi cho họ cuộc t́nh thơ mộng, nhưng không bao lâu vợ chết đột ngột, một cái ’sốch’ và nỗi đau đến với ông, Eluard rơi vào tuyệt vọng như rơi vào ḷ luyện ngục. Paul Eluard phục hồi cuộc đời qua t́nh bạn và t́nh yêu. Eluard tái sinh đời ḿnh bằng một cuộc hôn nhân mới (Dominique). Một kiểu thức lăng mạn cổ điển, thể hiện dưới cái nh́n chân phúc đi từ nỗi đau vô biên để rồi được cứu nguy trong một sức mạnh không cùng. Nhưng kiểu thức đó không phải là định mệnh mà chính Eluard muốn điều đó với ḷng dục vọng để làm mới cuộc đời đang sống. Trong lúc ấy; ông không t́m thấy nỗi đau khổ và cô đơn vây quanh đời ông. Eluard chấm dứt tất cả để bắt đầu trở lại với ’đôi mắt tinh tường’ hơn sau những lần chạm trán với đời cũng như chạm trán với t́nh yêu.

Paul Eluard tin thơ có nhiều dấu hiệu của niềm tin, những bài thơ như thánh ca ở nơi thờ phượng, thơ c̣n là hoài niệm, thơ là những kỷ niệm khó quên về những tàn phá của chiến tranh. Giống như Blake trong ’Lời  Ca Vô Tội / Songs of Innocence’ Eluard có những bài thơ tương tợ trong ’Niềm Khao Khát Vững Ḷng Chịu Đựng / The Firm Desire to Endure’ chứa đựng cả một sự đánh đổi và triệu chứng mà thế giới đă trải qua sự tàn phá và hủy hoại. đó là nguyên nhân của cuộc chiến thế giới II.

Dù cho tiếng hát của Eluard đơn thuần vang vọng vẫn không bao giờ là tiếng hát u hoài trong quần chúng mà ngược lại ngời sáng. ’firm desire to endure/ le dur désir de durer’ âu cũng là điều khó đạt được qua sự chịu đựng; bởi nó quá khó để duy tŕ niềm hy vọng giữa lúc nầy trong khi quá nhiều những hủy hoại.

V́ vậy Eluard muốn một điều; thơ của ḿnh được mọi người nghe, hát, vẽ, múa, và được thưởng thức một cách cực độ đến với độc giả khắp nơi.

 

Những gịng thơ của Eluard sau nầy là một tiếp cận gần gũi với độc giả. Thơ của ông không quay về như những lần trước đây với thể thức tôn thờ hay thần tượng hóa, nhưng ngày nay Paul Eluard  làm một dáng thơ có t́nh nghĩa với độc giả. Mục đích chính là thơ t́nh, một loại thơ gần như truyền thông, một sứ điệp ḥa b́nh, một cảm xúc chung, một cảm nhận và niềm hân hoan xuyên qua một tri thức nhạc điệu. Eluard thường xử dụng  ngôn từ ’ḿnh trần / nu / naked’ trong thơ của ông -giống như thể xác của người yêu- đó là thứ ngôn ngữ riêng của nhà thơ, cái b́nh thường giản đơn như tự có ’simplifies itself’- một cái trơn tru, trần trụi của chất thơ. Eluard thường dựa vào ngữ pháp trong thơ , một cách thông thường. Do đó chúng ta không bối rối bởi những ngôn từ trong thơ của ông, tuy nhiên; xuyên qua những vần thơ hổn hợp vẫn cho chúng ta một cảm giác thoải mái, lời thơ tợ như phản phất một ít thần chú, hiện h́nh hóa thân (incantatory). Andre Gide có lần nhấn mạnh như sau:

”Có thần chú trong thơ của Eluard là một cái ǵ đạt được độc quyền và trong một cái ǵ đó mặc dầu vẫn đầy đủ nghĩa lư của ngôn từ... Eluard chỉ giữ lại cái năng lực thần thông đó...” (Incantation in the poems of Eluard is obtained exclusive of and in spite of the meaning of words…Eluard retains only their incantatory power…)

Nghệ thuật thi ca của Eluard trong sáng rơ ràng và thanh thoát với hồn người là thể chất liên kết trong một đức tính của thi ca và xă hội. Eluard cho ra tập thơ đầu tay với tựa đề “Bầy Súc Vật và Đám Chủ của Chúng / The Animals and Their Men” (1920) được xem như những lời thơ chân t́nh cùng sự trở về của những nhà thơ, một chuyển thể của ngôn ngữ thơ, một phản ảnh trung thực chất liệu thơ, một trao đổi giữa nhà thơ với nhà thơ. Đó là mục tiêu của Eluard, biết xử dụng ngôn ngữ để trao đổi và dung hoà với quần chúng. Một lợi điểm khá tốt đẹp cho Paul Eluard.

Trong bài nhận định Eluard đă lấy câu châm ngôn của Lautréamont mà lập lại rằng: “Thi ca phải làm nên tất cả. Không riêng một ai” (Poetry must be made by all. Not by one). Cách mạng về thi ca là những ǵ đến với chúng ta và chia sẻ cùng chúng ta trong một ngôn ngữ thế giới, Đối với Eluard thơ không thực chất, không xác thịt, không huyết lệ, nó chỉ đến trong giây phút tương giao nào đó; mỗi khi giữa độc giả và nhà thơ có cùng một trạng thái tương đồng với nhau trong cuộc sống.

Suy tư của Eluard không bao giờ t́m thấy cái biến dạng ngôn ngữ trong thơ của ông, kể cả thời gian đầu với trường phái ĐaĐa và Siêu thực là những tác phẩm chỉ nói lên những ǵ kinh nghiệm về thiên nhiên và về sau ít nói đến trong tập thơ “Những Bài T́nh Cuối / Last Love Poems”. Những t́nh thơ được cô đọng trong sự nghiệp của Eluard, tất cả là kết quả làm thành thơ, một thể thơ tiến bộ, chiếm lĩnh suốt ba mươi năm. Hoàn cảnh lịch sử là một kinh nghiệm lâu dài và bền bỉ của thơ và củng cố  một điạ vị lớn lao trong thơ của Eluard, một ủy nhiệm về thi ca, đó là điều có thể bưng bít phần nào thể thơ siêu thực của ông trước đây.

Năm 1919 Eluard bắt đầu hợp tác với André Breton, Louis Aragon va Phillipe Soupault để cùng nhau hoạch định đường lối chủ thuyết đa-đa, làm việc chung với nhà thơ Lỗ Ma Ni Tristan Tzara bắt đầu đưa phong trào đa-đa đến Zurich (Đức) 1916.  Tzara và chủ nghĩa đa-đa thực sự bùng dậy và bỏ rơi chủ nghĩa siêu thực vào năm 1922. Eluard tiếp tục hoạt động với nhóm siêu thực; ông là một trong những người hăng hái và ảnh hưởng trường phái nầy cùng một số thành viên cho măi đến 1938. Có thể là t́nh thân hữu và bè bạn đám văn nhân mà Eluard c̣n tiếp nối với trường phái siêu thực, tha thiết đó đă đi vào thơ của Eluard. T́nh bạn đă in sâu vào ḷng Eluard như Réne Char, Max Ernst và Picasso  cho đến những ngày cuối đời.

Với lối viết máy móc nhanh nhẹn, trường phái siêu thực động viên Eluard qua thể cách chất liệu lỏng (fluidity of style) phương cách đó đưa đến động tác thanh thản của người mộng du. Đối với Eluard coi như đây là bạn đồng hành; siêu thực có nghĩa là khám phá những ǵ chưa biết tới, quật khởi (to mine) cái vô thức và cái thế giới mộng mơ. Eluard cho đây là nguồn gốc mới và được dùng để xây lên một ngôn ngữ đầy tính cách thẩm mỹ, một thứ ngôn ngữ đi tới cái tận cùng tự nó nếu cái đẹp đó chạm đến con người.

Eluard không mấy hài ḷng để tiếp tục dựa lưng vào ‘bức tường ảo vọng’ trong thơ của ông. Siêu thực là một thể thức hiện đại, có nghĩa một biểu thị tư tưởng trong thơ của Eluard ngày hôm nay, ông đă tạo cho minh con đường để đi, rèn luyện để có những lời thơ khác người trong phong cách vừa hiện sinh vừa siêu thực. Qua những tác phẩm của Paul Eluard được các nhà phê b́nh đánh giá cao, khởi từ năm 1936 tên tuổi của ông được ghi nhận khắp Âu châu và mọi nơi; từ đó thơ văn được coi là tiếng nói của lương tâm và phổ thông với quần chúng, nó không c̣n là cơi riêng của những người viết văn hay làm thơ, liên hợp những khuynh hướng chính trị và cuộc đời ‘vượt thoát ngoài kia’ với những gịng thơ t́nh trong một ngôn ngữ ‘hồ lốn’ amalgam mới mẻ hơn. Mà có lần Eluard nói ở Handrail vào năm 1936; lời thơ của ông thu hút mănh liệt v́ bên trong nó có một cái ǵ để làm nên:’Này đây/hởi mọi người đoàn kết lại’ attentive/to the people whom he reunites (trong Oeuvres compl).

Cùng năm đó Eluard quyết định từ bỏ ‘siêu thực’, đoạn tuyệt người bạn André Breton và bên cạnh đó ông giả từ những ǵ không cần thiết đối với ông lúc nầy. Paul Eluard bị một sức ép mănh liệt, ném ông đến gần với đảng Cộng Sản 1926 và rồi cách ly mọi lư thuyết 1930, qua năm 1940 ông là đảng viên đảng Cộng Sản. Trong một bài thơ Eluard dùng chữ ‘người/hommes/men’ ư rằng ‘người’ là ‘nhân dân’.Tư tưởng Cộng Sản đă phản ảnh ít nhiều trong tập ‘Những Bài Thơ T́nh Cuối/Last Love Poems’ một tư duy trong sáng và hàm chứa qua những lời thơ tha thiết như một khát vọng mà Eluard mong muốn từ lâu.

 

                          Thi Ca Không Gián Đoạn / Uninterrupted Poetry

Trong cuốn: ‘Le prière d’insérer de Poésie Ininterrompue’ có nói rằng: tập thơ Uninterrupted Poetry chứa đựng cả tinh hoa quan trọng của nhà thơ Eluard; chắc chắn ở đó chúng ta có một xác quyết rơ ràng cho một điều ǵ nghịch lư, bởi v́ có một sự chuẩn mực có thể cho chúng ta t́m thấy. Thí dụ; thơ Eluard có nhiều ư tưởng quan trọng hơn ư tưởng tự do? Nhưng nếu thơ là vấn đề để lănh hội và cảm nhận là quan trọng trong cảm thức định lượng, th́ chúng ta có thể nói có ảnh hưởng hay hậu quả ǵ đó ‘consequence’; thế th́ đó là sự thực cho bài thơ mà hầu hết bảy trăm thể thơ là có một cái ǵ khác thường trong những tác phẩm của Paule Eluard và chính cái sự cớ đó Eluard bắt tay vào năm 1946, một liều lĩnh thử nghiệm trong việc đương đầu với một thời buổi hiện đại hóa. Eluard thành công! như vậy không có ǵ để bao che cho một mẫu thức của cái gọi là importance của tám-ḍng-thơ trong ‘Couvre-Feu in Poésie et Verité’ 1942 và cho tất cả những ǵ chú ư tới sự tiến tŕnh của một tinh thần tự do; ở đây chưa bao giờ tự do cho Eluard. Điều nầy vẫn c̣n nằm dưới đáy tuyệt vọng của đo lường về sự quan trọng của tập thơ mà điều đó chưa đánh giá hay thẩm định cụ thể.

Thi ca là ngôn ngữ và chính lư do nầy không phải là cần thiết cho một nhà thơ hơn là  khởi đầu cho một ngôn ngữ; không ai biện chứng để có thể tin phục một cách sâu xa như Eluard trong thời gian bắt đầu cuộc chiến. Trong một góc độ nào đó, dữ kiện nầy sẽ đạt tới, ngày mai sau cuộc chiến; th́ cái ǵ cho một họa sĩ gọi tên cho họa phẩm ‘la grande composition’(?); có thể coi đây như dấu hiệu đă giải quyết xong sự khó, một thông điệp cho một trạng huống của tư tưởng thi ca mà điều đó không bao giờ nhượng bộ một cách dễ dàng hoặc một thích nghi thỏa đáng cho chính nó.  

 

Tóm lại; hơn nữa thế kỷ qua, sau cái chết của Paul Eluard, bây giờ chúng ta đă thấy những ǵ ‘siêu thực’ là những ǵ hoàn toàn không có đổi mới hay sửa sang đường lối siêu thực cả, nhưng không phải v́ thế mà làm mất giá trị tuyệt hảo nguồn thơ của Eluard; đó là con đường sáng cho ông, một giao thông giữa người và đời.

Eluard là một nhà thơ t́nh, một nhà thơ mơ mộng, một khát vọng ấp ủ, tất cả cô đọng trong một tâm hồn vượt thoát của đời ông qua những đấu tranh đ̣i b́nh đẳng, thù ghét chiến tranh phá hủy nguồn sống của con người, Eluard đứng bên cạnh những kẻ khốn cùng, chống lại xă hội bất công, hoạt cảnh đó xâm chiếm Paul Eluard qua t́nh thơ. Đó là đam mê của ông để sáng tạo ra một ngôn ngữ đại đồng. Eluard dàn trải để chia sẻ. Không c̣n thân t́nh với Breton nhưng ông nhất trí với Pablo Neruda, kẽ đồng hành. Neruda ngưỡng mộ và khâm phục Eluard coi ông như một ‘cảm xúc trong sáng’ của nhà thơ vĩ đại.

Bên trong con người của Eluard chúng ta t́m thấy gịng thơ bất tận, một cái ǵ của ‘firm desire to endure’ một ước ao chắc nịch với ḷng kiên nhẫn. Tuy nhiên; lời nhắc nhở với chúng ta: ’ngôn ngữ chấp nạp niềm tin và hy vọng dù trong lúc đó có một ít tuyệt vọng’. Dẫu ǵ Paul Eluard vẫn là nhà thơ đương đại nhất của chúng ta hôm nay và mai sau. Khát vọng đó trở thành hiện thực cho thi sĩ thiết tha với t́nh người.

                                                                  *

                                 Đơn Cử Vài Ba  Bài Thơ của Paul Eluard

 

CƯỜI ĐỘC

 

Tranh nhau một nụ cười

Như đêm sao mọc trên trời

Một nụ cười cho nhau

 

Mắt cười thích thú xanh xao

Dựa vào khối bóng đêm đen

Ngọn lửa bừng lên trong mắt tôi

 

Tôi đă thấy xuyên qua điều muốn biết

Đêm lắng sâu ngày tái tạo

chẳng thay ḷng đổi dạ chúng tôi.(1)

 

UN SEUL SOURIRE

 

Un seul sourire disputait

Chaque étoile à la nuit montante

Un seul sourire pour nous deux

 

Et l’azur en tes yeux ravis

Contre la masse de la nuit

Trouvait sa flamme dans mes yeux

 

J’ai vu par besoin de savoir

La haute nuit créer le jour

Sans que nous changions d’apparence.

 

BÊN NGOÀI

 

Đêm . lạnh . hoang vu độc chiếc

Coi chừng giá buốt khóa chân tôi

Nhưng cành nhánh ŕ rào t́m đường chỉ lối thoát ngục tù

Quanh  tôi cỏ cây dựng cảnh không gian

Then cài cửa đóng cả bầu trời

Tù ngục tôi sụp đổ

Sống lạnh . đốt lạnh .có tôi. ấm đôi tay.(2)

 

FROM The OUTSIDE

 

The night the cold the solitude

Carefully they locked me in

But the branches sought their way in the prison

About me grass found sky

They bolted out the sky

My prison crumbled

The living cold the burning cold had me well in hand (1942)

 

NGƯỜI T̀NH TÔI Hay T̀NH NGƯỜI ĐÀN BÀ

 

Nàng đứng trong mí mắt tôi

Và tóc nàng là của phần tôi

Nàng dáng vẻ xinh xắn trong tay tôi

Nàng là muôn sắc trong mắt tôi

Nàng là ch́m đắm trong bóng h́nh tôi

Tợ như phiến đá dựa lưng trời

Đôi mắt nàng mở rộng

Nàng không cho tôi ngủ

Giấc mơ nàng tỏa rộng sáng như ngày

Trời xanh quen thói ph́ hơi nước

Làm tôi nực cười, cười rủ rượi cười

Và nói không thành lời.(3)

 

L’AMOUREUSE

 

Elle est debout sur mes paupières

Et ses cheveux sont dans les miens

Elle a la forme de mes mains

Elle a la couleur de mes yeux

Elle s’engloutit dans mon ombre

Comme une pierre sur le ciel

Elle a toujours les yeux ouverts

Et ne me laisse pas dormir

Ses rêves en pline lumière

Font s’évaporer les soleils

Me font rire, pleure et rire

Parler sans avoir rien à dire. (1924/1926)

 

VƠ CÔNG LIÊM  (ca.ab. cuối 6/2012)

 

*  Paul Eugène Éluard (1895-1952) sanh  tại Paris. Pháp quốc.Chết tại Charenton. Pháp quốc.

 

SÁCH ĐỌC :

- Uninterrupted Poetry by Paul Eluard. trans : Lloyd Alexander. New Directions Pub. Corp.NY.USA 1975.

- Le Dur Desir De Durer. by Stephen Spender. New Directions. 1950. USA 1977.

- Introduction Notes by L. Aragon  

- (1) (2) (3) Phỏng dịch bởi VCL.

 

                                                        ***    

   

 

 

 

art2all.net