vơ công liêm

 

RIMBAUD

JE EST UN AUTRE / TÔI KHÁC ĐỜI

  

   

 

     Chúng ta gặp gỡ trên văn đàn nhiều tác giả lừng danh thế giới, nhưng chưa có ai như Rimbaud. Một con người kỳ lạ, một nhà thơ phóng túng, một tư tưởng sống khác người, khác đời - Je est un autre / I is somebody else - Bên cạnh những cuộc t́nh không hợp lư, không tương phản để rồi đi vào đời như một nhân chứng của thời đại, sống ngắn nhưng sống nhiều…

 

Jean-Nicolas-Arthur Rimbaud. Sanh vào ngày 20 tháng Mười năm 1854 là con thứ hai trong gia đ́nh gịng họ Rimbaud. Cha tên là Frédéric Rimbaud, mẹ tên là Vitalie Cuif. Gốc Pháp thuộc giáo phái Ki-Tô-La-Mă  (Roman Catholic). Cả hai xuất thân trong một gia đ́nh nông dân b́nh thường. A. Rimbaud luôn mang nặng tâm tư về cái tên họ của ḿnh. Thuở xa xưa được gọi là ‘ribaud’ lấy từ nguyên nghĩa của  ‘rimbaldus’ danh xưng của tầng lớp hạ lưu trong xă hội, nhưng qua bao thế hệ được xét lại và minh định chính danh một cách đích thực tên gọi là Rimbaud, một tên gọi hài ḥa và tự nhiên như mọi tên gọi khác.

Ngoài cái chết ra th́ chẳng một ai biết được những bước tiên khởi ‘avant-garde’ của Rimbaud để lại. Arthur Rimbaud là một trong những người đứng ra chống đối, bài bác  để giải phóng toàn bộ thứ văn hóa đ́nh trệ của thế kỷ XX.

Ông là nhà thơ đầu tiên khám phá ra một phương thức khoa học thực nghiệm trong thơ ; hầu thay đổi được tính sinh tồn tự nhiên của nó (nature of existence) và cuộc phiêu lưu đồng-t́nh-luyến-ái đầu tiên trong đời ông như một kiểu thức để thay đổi bộ mặt xă hội của thời bấy giờ và cũng là lần đầu từ bỏ những ǵ có tính thần thoại cổ điển. Những ǵ Rimbaud nói và thực hành là được đánh giá cao nhưng cũng c̣n tùy thuộc vào hoàn cảnh và thời gian. Không biết Rimbaud có chờ đợi như Nguyễn Du chờ đợi, để rồi cùng tấu những thơ-khúc ai oán của đời dành cho họ ?

Thơ của Rimbaud là một thứ thơ phóng đăng của đầu thế kỷ hai mươi, những gịng thơ đó đem lại sự sống c̣n cho tới ngày nay, được trải rộng đầy kinh ngạc đối với giới yêu thơ. Cho dù giữa thập niên 1880, nước Pháp trong thời kỳ suy tàn th́ người ta gióng lên tiếng nói của chàng thanh niên trẻ Rimbaud như con người cứu chuộc, con người của giải phóng ‘Messiah’. Rimbaud xuất hiện đúng lúc như một v́ sao giữa vũ trụ này. Ông sống hiện sinh qua bao cuộc thăng trầm giữa đời, vật lộn bao thử thách và chấp nhận mọi t́nh huống điêu đứng khác, Rimbaud kiên tŕ chịu đựng những thử thách khác nhau, du hành qua 13 quốc gia trên điạ cầu, sống với vai tṛ công nhân nhà máy, dạy kèm kiếm cơm, đi ăn xin, phu bến tàu, mánh mung (mercenary) đổi tiền, bán thuốc, buôn súng, đi buôn và dựa vào ḷng tin của những người thường trú ở miền nam Abyssinia để rao giảng về Hồi giáo.

Rimbaud có tầm nh́n rộng lớn đối với chúng ta ; một con người nghệ sĩ bung phá. Đúng như thế ! Albert Camus có lần nói : « Nhà thơ của phản kháng, đó là những ǵ vĩ đại nhất của tất cả những ǵ để lại » (The poet of revolt, and the greatest of them all).

Thi tứ của Rimbaud, được coi như trường phái Tượng Trưng, trường phái Siêu Thực, một kiểu thức riêng của nhà thơ bung phá, của đám sinh viên ưa nổi dậy, với những câu thơ bốc lửa, những con người khám phá, xung phong và nguồn cảm hứng xuất phát từ độc dược, tất cả đă thể hiện trong cuộc đời cũng như trong thơ của Rimbaud; mà điều đó được xem như  một cảm thức chung (common sense) cho nên Rimbaud đă sống đúng thời thượng của chính ḿnh. Rimbaud đưa phong cách sống đó vào đời, kéo dài qua 4 thế hệ như việc làm tiên phong, một lối thoát cấp thời dành cho những buổi thảo luận đ̣i hỏi đổi mới tư duy.

Oái ăm thay; bao nhiêu kinh nghiệm trung thực của Rimbaud được đời gán cho hai chữ ‘mị ngôn’ thực ra tiếng nói đó giúp ông thành lập một quan niệm thực nghiệm trong văn chương, có thể học hỏi như  một thứ chữa trị riêng biệt từ những cái gọi là không chuyên nghiệp đầy ngổn ngang g̣ đống của cuộc đời này.

It is ironic that the experiments Rimbaud referred to as his ‘verbal alchemy’ have helped to establish the idea that literary texts should be studied in clinical isolation from the unprofessional muddle of a life.

Thi văn và lối sống của Rimbaud đặc biệt ảnh hưởng lớn đến những văn nhân ngày nay, góp phần  làm nên những tác phẩm cho họ : Pablo Picasso, André Breton, Jean Cocteau, Allen Ginsberg, Bob Dyland and Jim Morrison. Rimbaud là tấm gương phản chiếu vào mọi hoàn cảnh của cuộc đời đang sống.

Về luân lư, đạo đức và tài năng, chàng thanh niên ‘Raimbaud’ ở tuổi 15, 16 không có tư chất của con người b́nh thường, biến tính thành một con người quái dị. Ông đă dựng nên những bài thơ không giống ai, những tác phẩm của ông hoàn toàn không ai hiểu thấu và sự nông nỗi của một đời sống hiện sinh mà ông đă dấn thân. Đời ông và thơ thật khác người; ngay những thư gởi bạn với giọng văn mập mờ, khó hiểu chứa đựng một lời lẽ thô tục, bẩn thỉu. Rimbaud đưa vào thơ  với một ngữ-thơ nghe rất quái: “E=mc2: Je est un autre”. Tánh nào tật ấy, Rimbaud phát ngôn bừa băi, đùa cợt ngu xuẩn kể cả niềm tin: “ Tôi xưng tội là điều ngạc nhiên cho tôi” ‘ I confess I was taken aback’ ( Letters-1871)

“ Một trí tuệ thần thánh điều đó chắc chắn là ánh hào quang của thứ ánh sáng thiên đường” ‘An angelic mind that was certainly illuminated by heavenly light’. Paul Claudel.

T́m thấy trong thơ của Rimbaud là xác quyết được cái ǵ trong trắng, thơ ngây dù là những câu thơ chứa đựng ít nhiều phàm phu tục tỉu. Không giống ai; đó là cơi riêng của Arthur Rimbaud; xuất hiện như một đ̣i hỏi mà vẫn không mất tính hồn nhiên nhưng ư thức vô tội đó có thể không đi xa hơn hay lạc hướng thơ ông. Rimbaud làm thơ ở tuổi 15. Một nguồn thơ dâng trào không ngăn được với một tư tưởng vượt thoát để t́m thấy đích thực của thơ. Không như những nhà thơ đương đại, thơ ông không thuộc về văn chương hay tương đương một thứ văn chương tŕnh diễn nhưng chứa đựng một chất liệu tạp nham của đời, toàn thân của bài thơ hầu như mang nặng bệnh lư tính một cách mơ hồ, khó hiểu. Đời ông là cả một sự hỗn loạn, một nổ lực vô thừa nhận đó là mối quan hệ giữa Rimbaud và Verlaine. Từ đó nảy sinh ra những phiêu lưu thám hiểm, những thúc bách về tài chính, đường lối chính trị và tôn giáo những thứ đó tác động mănh liệt trong một xă hội nô lệ ở những nơi Phi châu.

Rimbaud thường gợi lên những cảnh hoang phế ‘abandonment’ trong thơ của ông, tợ như một tai họa, điều đó  không phải chỉ xẩy ra một cách đơn phương mà tràn ngập bầu không khí chụp xuống đời ông.

Buồn thương cho đôi tay trẻ đầy thô bạo

Vàng pha lóng lánh trăng mùa hạ nằm êm trong ḷng dâng hiển Thánh!*

( Regret des bras épais

Or des lunes d’avril au coeur du saint lit)  (Mémoire)

 

‘Je est un autre / Tôi khác đời’ có thể là một sự ngộ nhận hay nhầm lẫn thường khi xẩy ra trong văn chương Pháp. Sự diễn tả ấy như sắp đặt từ những cái tầm thường, vô vị để tạo nên cái khác lạ dị thường : ám chỉ một cái ǵ rất thường nhưng rất lăng mạn của cá tính riêng biệt, tạo được khe hở đặc biệt hơn ; một cái ǵ không cần thiết, không cần phải sáng tỏ, một lối nói mù tăm : ‘Tôi là thi sĩ và tôi chẳng biết ǵ thơ’ (I was a poet and I didn’t know it). Bằng chứng Rimbaud là con người hướng về nội quan, h́nh thức bí hiểm đó là những thứ dụng văn để vượt qua sự thông đạt của con người. Rimbaud tạo ra được một cái nh́n tinh tế. Nhận ra được nhăn hiệu của chữ ‘TÔI’- điều đó không thể tách ra được, một trách nhiệm luân lư ‘tự ngă/self’ mà những thứ đó nó nằm trong ḷng của những người Thiên chúa giáo và những triết gia Phương tây đă t́m thấy ;thử tưởng tượng ra một cái ǵ thô tục, những thứ đó hiện diện thường trực trong trí óc con người như một khối u của ư thức.

Nguồn gốc minh định sự sáng suốt đó là một sự đối chiếu đơn giản của hiện tượng ; trí tuệ sáng suốt tự chính nó là tác động và sáng tạo trong thơ của Rimbaud.

Rimbaud được mô tả như một tiến tŕnh của một h́nh ảnh huy hoàng tuyệt hảo : Nhà thơ vừa là thính giả, vừa là nhà điều khiển nhạc của một đại thính đường Rimbaud.

Không có ǵ mới mẻ về sự minh mẫn trong thơ của Rimbaud. Chẳng qua ông ta t́m thấy cái tư tưởng giản đơn trong những tác phẩm của Baudelaire hoặc của Hippolyte Taine. Rimbaud đă xử dụng cách khác, tuy nhiên ; ông đă khéo léo cách dụng văn táo bạo và cường độ để làm cho câu thơ trở nên lẫy lừng và riêng biệt hơn.

Cùng một sắc thái của sự kinh ngạc đó ; chính là cảm hứng gần gũi thân thiết, ông  quyết định triệt tiêu sự cưỡng bách về giáo dục, luân lư ràng buộc và độc quyền kiểm soát có nghĩa là kiểm soát luôn phần vật phẩm của trí thức. Đây cũng là nguyên nhân đưa tới sự  quá khích trong ông. Giống sự chuyển động của Newton, cái ‘th́’ của Einstein và cái nhiệt độ thời tiết của Lorenz mà những thứ đó không thể sờ mó được để thấy và mang lại sự phân tích. Thời điểm đó không thể tạo cho ông vào năm 1871, ông xét nghiệm khả năng của ḿnh về việc tháo gỡ lời chỉ trích, phê b́nh quá độ của h́nh ảnh phi tưởng mà h́nh ảnh đó không bao giờ dứt điểm.

Trong những tác phẩm của Rimbaud đều ghi lại dấu vết của tuổi thơ mà ông đă dẫm qua -căn gác xép, hầm rượu, buồng ngủ và nhà xí- đó là nơi trú ẩn gần gũi bên mẹ là những hiện h́nh tuyệt thú của đời ông. ‘Je est un autre / Tôi khác đời’ câu nói đó được coi là phương châm dành cho tuổi thơ, như thường khi mắng yêu ‘thằng con lạ đời’ của mẹ nựng con, những lời lẽ đó thấm sâu vào ḷng ông ; chân t́nh mỗi khi nhớ đến…

Rimbaud đùa cợt một cách hung hăn có khác ǵ trong thơ ông, nhưng không ; Rimbaud mượn cái sự cớ ấy để diễn giải một ư thức khác trong thơ, như chúng ta đă biết Rimbaud là con người luôn ở trạng thái hỗn loạn tâm thần, do đó lời ăn tiếng nói đôi khi không làm đẹp ḷng người nghe, những cử chỉ đó đă ảnh hưởng đến t́nh bạn của ông cũng như những quan hệ khác, sự trầm trọng mặc khải giữa Verlaine và Rimbaud về sau nầy. Chính cái tinh thần bạo dâm của ông là một ‘thí nghiệm’. Đời sống thường nhật đối với ông là cả một cô đơn, trống vắng chả c̣n phát hiện những cảm hứng nào hơn. Quan niệm đó làm cho Rimbaud cảm thấy buồn cười cho chính ḿnh mà những điều đó làm vơi đi ám ảnh sát khí, một lối nói ám thị việc đồng t́nh luyến ái. Với thói tính ấy, Rimbaud tự cho ḿnh như một đứa trẻ quái gở, ngông cuồng cũng từ những vần thơ của Baudelaire ; thiết tưởng điều đó nẫy nở trong ḷng ông. Rimbaud tá hoả khi đọc Les Fleur du Mal đă có đôi phần ảnh hưởng đến Công-Xă Pháp thời đó.

Thi văn của Baudelaire thật sự xâm chiếm hồn thơ của Rimbaud khi ông đọc bài viết của Baudelaire ‘Un mangeur d’opium’ (Nghiện thuốc phiện), chính những nhận định đó để lại cho Rimbaud những suy tư : ‘Trong đáy vực thẳm của những đô thị sầm uất cũng như giữa băi sa mạc hoang vu đều có những thứ xây dựng kiên cố và kiểu cách hợp thời ḷng ao ước của con người … mỗi khi điều đó không c̣n là suy thoái và hao tổn tinh thần cho hắn nữa’

(In the abyss of great cities, at in the desert, there is something which fortifies and fashions the heart of man… when it does not deprave and enfeeble him).

Những bài thơ b́nh thường hay những bài thơ phá lệ của Rimbaud đều cùng một thái độ xử thế như nhau, tất cả nó nằm trong một quy tŕnh biến loạn tâm tư. Ở đây không phải là sự thoái bộ để đi tới giam cầm bởi tập quán, mà đó là một sự cố gắng  chặt đứt những hệ lụy cá nhân.

Để xác quyết những vần thơ ông làm ra; nghĩa là những cụm từ, đoản ngữ, những câu vô nghĩa lư, chính là sự thúc đẩy đi thẳng đến hành động hoặc là mơ về cái mệnh lệnh của thơ, luật tắc đó chính nơi cái tự có của Rimbaud, phút giây ấy; chính là sự khác lạ trong con người của Rimbaud. Đó là những tâm t́nh mà Rimbaud gởi gắm qua thư gởi bạn Izambard: Đây là ‘đối tượng của thi ca’, một thứ thi ca siêu việt, một cá tính đặc biệt, bởi v́; theo Rimbaud nguồn cơn căn bản chính yếu thuộc về khoa học nghệ thuật thơ.

Trong bài thơ 14 chữ  hàm ư về một hiện tượng lạ, nhưng cũng bức ra hay trêu chọc cái lư thuyết siêu h́nh trừu tượng như bài thơ dưới đây :

 

Nguyên-Âm*

 

A đen, E trắng, I đỏ, U lục, O xanh- ấy là nguyên âm,

Ngày nào đó tôi kể cho nghe ngày sinh giấu kín của bạn:

A- chiếc nịt vú lông đen của những con ruồi quá đẹp

Đó là tiếng đàn chậm răi xung quanh mùi man rợ

 

Bóng tối của vực thẳm. E- bốc hơi trắng xóa  và những chiếc lều,

Tự hào thay những cây lao băng tuyết, vua trắng, rung động từng cụm hoa.

I  - màu đỏ tiá, khạc ra máu, duyên dáng mỉm môi cười

Hờn dỗi hay hôn mê của ăn năn

 

U - cực thánh, thần thông rung rinh bóng nguyệt của biển xanh màu

Những con thú b́nh yên- trải cánh đồng cỏ nhấp nhô luống cày

In dấu mạ kim trên đôi mày rộng lớn chăm lo

 

O - Lá bài cuối cùng của sự kỳ lạ và âm thanh nhức nhối,

Âm thanh vút ngang từ Vũ trụ với Thiên thần

O- Là chữ cuối cùng, là tia ngoại tuyến trong mắt Người! *

 

(Voyelles)

( A noir, E blanc, I rouge, U vert, O bleu : voyelles

Je dirai quelque jour vos naissances latentes :

A, noir corset velu des mouches éclatantes

Qui bombinent autour des puanteurs cruelles.

  

Golfes d’ombre ; E, candeurs des vapeurs et des tentes,

Lances des glaciers fiers, rois blancs, frissons d’ombelles ;

I, pourpres, sang craché, rire des lèvres belles

Dans la colère ou les ivresses pénitentes ;

 

U, cycles, vibrements divins des mers virides,

Paix de pâtis semés d’animaux, paix des rides

Que l’alchimie imprime aux grands fronts studieux ;

 

O, Supprême Clairon plein des strideurs étranges

Silences traversés des Mondes et des Anges :

- O l’Oméga, rayon violet de Ses Yeux ! )

(Mlle Rimbaud)

 

Đây là một bài thơ tối nghĩa như những bài thơ tối nghĩa khác đều đặc nằm trong đáy tâm hồn của Rimbaud : đó là cái nóng bỏng, hăng say cho sự t́m kiếm một sức mạnh của tư duy, điều có thể coi như sự huyền bí mê hoặc, hướng tới sự nhạy bén của trí thông minh. Liên hợp lại với nhau là giữ được sự tồn lưu hiếm hoi này như một ân huệ cho tuổi trẻ. Một ảnh hưởng lớn lao về sự phê b́nh dưới cái nh́n của những chữ ‘nguyên âm’ mà Rimbaud thường dùng được coi như đại diện đường nét xác thịt của phụ nữ là một sự kích thích dữ dội (U-là h́nh dáng lả lướt của người đàn bà với mái tóc xanh lục. ( Trong : Le Sonnet des Voyelles ; Noulet).

Có một vài h́nh ảnh trong thơ Rimbaud ; có thể phù hợp đúng như những kỷ niệm hoặc có những ấn tượng sâu xa ; Chẳng hạn chữ A lớn có thể gợi ư cho ta thấy đôi cánh vỗ khi bay. Những trẻ mẫu giáo được giới thiệu bằng nguyên âm ‘i’ với chữ ‘rire’ bởi v́ như ép lại để miệng cười. Nhưng đó là lối giải thích hợp lư cho  nguyên âm, chữ ‘cầu vồng’ là h́nh ảnh tượng trưng cho Tristan Derème : những màu sắc sặc sở của cầu vồng và những nguyên âm được sắp xếp như tạo ra một cảnh êm đềm, những âm thanh đó không c̣n bế tắc –‘A đen, E trắng, I đỏ, U lục, O xanh’. Verlaine biết điều đó ; không có thực sự biệt lập như thế trong thơ, mà có sự phỉnh phờ và sự phơi bày giữa hai trường hợp như thế. Verlaine nói : ‘Trên lư thuyết th́ cho là đúng, tôi cảm thấy, vấn đề đó có thể hoàn toàn hờ hững đưa tới xa xuôi tột cùng, chỉ có cái linh động, bén nhạy của Rimbaud mà thôi’

« Theoretical exactitude, I feel, was probably a matter of complete indifference to the extremely witty Rimbaud.” (P. Verlaine)

Dù Rimbaud nhận nhiều lời phê b́nh hay ngợi ca chăng nữa, ư và hồn thơ của “Nguyên Âm” vẫn không thay đổi, một thể thơ nghịch và lạ, chính những điểm đó làm cho bài thơ sáng giá và nổi tiếng từ xưa cho đến nay, toàn bài thơ như ẩn tàng, như chứa đựng một cái ǵ riêng của Rimbaud. Từ lối dụng văn, sắp xếp câu thơ trong bài thơ Nguyên Âm cho ta thấy được Rimbaud đă vượt thời gian, có nghĩa rằng ở vào thế kỷ nầy người ta mới h́nh thành những thể loại thơ; Tân-H́nh-Thức, Hậu-Hiện-Đại, Thơ-Không-Vần, Thơ-Lắp-Đặt, Thơ Nghệ-Thuật-Tŕnh-Diễn … dù cố gắng cách mấy dưới mọi h́nh thức để thơ đi vào cơi riêng, nhưng vẫn không t́m cái khác lạ như Rimbaud đă t́m trước đây. Cái thiên tài, lư tính thơ nó nằm trong cái trục ấy, Rimbaud không làm nhiều thơ so với thế hệ ông như Victor Hugo, Baudelaire, Verlaine … Cái ít của Rimbaud là cái hiếm có (rarely) chỉ xuất thần trong 4 năm làm thơ là cái để đời, không cần phải có trọng lượng lớn, dù có làm một triệu bài thơ, cái sự có đó vẫn đi thụt lùi mà không hay.  Rimbaud sống  măi  cho tới ngày nay mà không ai có thể sánh cái cốt cách đó, thi tứ đó. Chưa nói những tác phẩm lừng danh của ông đề lại.

Từ khi Rimbaud gặt hái những thành quả đầu tiên vào những năn 1871, 1872 về thể loại thơ văn xuôi (prose poetry), điều ấy cho ta một dự phóng; có thể nói Rimbaud là người đi trước, một khám mới cho văn thơ ngày nay. Quan niệm của Rimbaud cho rằng người làm thơ phải có thần trí và nhăn lực “tiên tri thấu thị” mới đi tới cái lạ bằng sự bung phá của xúc cảm và giác quan. Qua những bài thơ như  Mùa Điạ Ngục (Une saison en Enfer 1873), Tranh Màu Ánh Sáng (Illuminations 1872) Paris Truy Hoan (Lorgie Parisienne 1871), Con Tàu Say ( Le Bateau Ivre 1871) và những bài thơ khác nói lên sự khát vọng tự do, vượt thoát mọi truyền thống cố hữu đă làm tê liệt guồng máy xă hội. Có những suy nghĩ khác; Une Saison en Enfer có thể xem như là bài thơ giă từ (farewells) làm thơ. ‘Départ’ và ‘Solde’ / ‘Start and Sold-out’ trong  Illumination hay trong Le Bateau Ivre; Rimbaud có ư như muốn bỏ làm thơ và nhảy sang viết, ông bắt đầu từ đó; cho nên ‘depart’ hay ‘solde’ là thế đó.

Trở lại viễn ảnh hiện thực trong Illumination và Une Saison en Enfer ta t́m thấy tư duy của Rimbaud lúc ấy; h́nh như ông chối bỏ Thượng đế, cuộc đời không c̣n tự động, vô ư thức (automatic) con người trở thành máy không có hồn trước cuộc đời đang sống hoặc mất luôn nền tảng luân lư. đạo đức mặc dù người ta hô hào hai thứ đó. Cái mốc trong Une Saison en Enfer là trụ cột của một thế giới xưa cũ ; ‘Lư thuyết nghe chuẩn mực, điạ ngục chắc chắn là sụp đổ (down) và cái nh́n lên (heaven) là cái mong đợi’. Trong Illumination có hai bề mặt rơ rệt; tốt (good) và xấu (evil) thường xuất hiện giữa Có và Không, điều đó do từ cảm thức lư thuyết mà ra, dù ở định hướng nào cũng có thể: dâng ngập (floods) th́ phải lắng rút (subside); cảnh vật chỉ là hai kích thước, khoảng cách trong không gian và thời gian là biến tŕnh của vận hành. Illumination / Tranh Màu Ánh Sáng * là một liên đới với ảo giác đầy phức tạp với h́nh ảnh (picture). Ngẫu nhiên! thói tính! mẫu mực đó chỉ thoáng qua và bốc hơi của dân thành thị. Đọng lại hay không tùy cảm thức người nhận.

                                                                        

Rimbaud đă bỏ thời gian qua 4 năm ‘gầy ṃn’ trong những tác phẩm ông để lại mà mỗi bài thơ chứa đựng đầy đủ lư tính thơ, từng chữ, từng câu là một cái nh́n thấu suốt thời sự, những thứ đó đại diện cho một trào lưu khác biệt, một trạng thái siêu lư của thơ, một dấu tích lịch sử thơ hiện đại ( history of modern poetry). Rimbaud bỏ cuộc chơi (thơ) bởi cái xuất thần, phát tiết như đột khởi; Rimbaud nhận thức được điều đó trong tâm can người, đi vào lănh vực khác như ḍng nước cạn, thế sự nhiễu nhương, t́nh người chao đảo, t́nh yêu đồng tính đă xen lẫn những bức tức nội tại để rồi Rimbaud thu ḿnh trong chén rượu như cứu chuộc, nhưng định mệnh không tha bắt ông phải lên đường như kẻ lưu đày, hoài niệm trở về sẽ không bao giờ sống thực như Rimbaud mong muốn. Rimbaud sống ngắn chỉ có 37 năm làm người nhưng sống hết ḿnh với t́nh người từ Tây sang Đông, ông chẳng để lại ǵ, chỉ để lại những đứa con tinh thần, có thể những ḍng tư duy đó có thông đạt một cách sâu sắc như ông nghĩ không? Rimbaud có điểm dừng của Rimbaud nhưng liệu có ai trong chúng ta chụp được cái hương vị đó; cho dù chỉ thoáng qua hay không đuổi kịp những ǵ ông để lại. Đó là siêu lư tính trong thơ Rimbaud. Khó kiếm cho ra một con người như thế ở cuộc đời này. Nhưng sẽ có như thế. Mong vậy!

Rimbaud gave up writing poetry, but few people, having acquired the taste, even give up reading it.

 

Trong số những tác phẩm của Jean Arthur Rimbaud để lại; đáng chú ư nhất Une Saison en Enfer và Illumination đă được đề cập nhiều nhất khi c̣n sinh tiền cho tới về sau nầy. Tuyệt tác hay tuyệt thú và tại sao lại dừng trong lúc đang trỗi dậy ?

Rimbaud cúi đầu lặng im.

" Một ḿnh tôi mở cửa đến với cuộc diễn hành quái lạ”

( I alone hold the key to this wild parade)

‘Parade, Illumination’

 

“ Có lẽ ông ta bí mật thay đổi cuộc đời”

(Perhaps he has secrets for changing life)

‘Délires I, Une Saison en Enfer’

 

VƠ CÔNG LIÊM  ( ca. ab. Thu 9/2011)

 

 

______________________________________ 

J. A. Rimbaud : 1854-1891. Sanh và chết tại Pháp.

* Phỏng dịch thơ và đề tựa bởi vơcôngliêm.

SÁCH ĐỌC :

RIMBAUD by Graham Robb. W. W. Norton&Company. New-York. London 2000

 

______________________________________

Đọc thêm của a2a :

http://www.mag4.net/Rimbaud/poesies/Poems.html

http://www.mag4.net/Rimbaud/index-en.php

http://en.wikipedia.org/wiki/Arthur_Rimbaud

 

trang vơ công liêm

art2all.net