vơ công liêm

 

THI CA ĐƯƠNG ĐẠI II

 

Tranh Vơ Công Liêm : Giữa trắng và đen


         
Đúng nghĩa của nó là những ǵ xẩy ra cùng thời, cùng lúc với nhau và cùng thế hệ thời gọi chung là thi ca đương đại /contemporary poetry. Nhưng thơ phải độc sáng. Dựa vào yếu tố đó để phân định một số nhà thơ có trước và sau mà mỗi thời đều có tính chất đặc thù đương đại khác nhau chớ không nhất thiết chỉ rơ những ǵ làm ra của thời hiện tại hay phân biệt qua từng thể loại trong thơ; mà trước đây đă có cái nh́n lệch hướng hay chủ quan cho rằng thi ca phải phép tắc, đúng ‘đường luật’ hay ít ra có vần điệu để thơ trở nên thi vị hơn. Dù cố cựu hay canh tân miễn sao diễn tả được ư và t́nh, phản ảnh được chất liệu của thơ để cho thơ thoát ra khỏi những kiềm chế của ngữ ngôn, phong tỏa bởi ‘luật điều im lặng’ không c̣n phóng túng để thoát tục với hồn thơ mà làm cho thơ rơi tuột khỏi tư duy. Chúng ta sẳn sàng thừa nhận rằng một bài thơ không thể tạo ra một cảm thức tuyệt đối hoàn toàn; cách thức trung thực và cởi mở qua từng khúc, đoạn, chặt, chấm, phết, ngắt câu hay sang câu giống như người ta làm –we readily admit that often a poem doesn’t make immediate total sense; the way a straightforward paragraph like this one does. Cho dù diễn tả dưới dạng thức nào, thi ca đ̣i hỏi phải có nhịp điệu để có một cảm thức tức thời, ngay cả đọc thơ như rống hay ngâm nga qua một cảm thức phô diễn th́ nghĩa lư của thơ sẽ được ḥa điệu nếu đạt tới nguồn thi hứng đă làm ra. Đạt tới là nhờ vào ‘ư và t́nh’ trong sáng của những ǵ trong thơ làm cho người đọc cảm hóa với thi nhân. Ở thơ chỉ một chữ cũng đủ nói lên trọn ư nhưng với văn chương không đơn giản giải bày qua kinh nghiệm con người -một kinh nghiệm tự nó /it is itself an experience- thi ca là tác động từ trí năng và cảm thức mà có thơ. Nhưng; thi ca cũng là thể thức văn chương, nếu cái ‘hay’ đó tùy thuộc vào ngữ cảnh của điệu thơ và âm thanh của ngữ ngôn được xử dụng với phương cách kềm chế, ŕ ép con chữ để ngữ ngôn thơ có lối thoát, có nghĩa là hợp điệu câu thơ trên hay dưới và so sánh được cấp độ của từng con chữ tùy vào (của tĩnh từ hay trạng từ) đó là những ǵ có thể có mà đă một lần nằm trong trí bằng sự khai phá mới cho một năng lực tràn đầy ư nghĩa, và; từ đó gọi là thi ca văn chương. Thi ca không cần nói thêm trong phạm vi nhỏ hẹp của nó; nó cũng là nói nhiều rồi –a poem not only say much in little space; it also is much. Thơ không c̣n đơn phương trong chiều hướng riêng biệt của thơ mà thơ là một h́nh thức diễn tả gián tiếp dài ḍng văn tự như văn chương; độc đáo của thơ là ‘lời ngắn t́nh dài’.Thành ra cô đọng của thơ là chuỗi ngân dài ăn sâu vào ḷng người.Thi vị thơ do từ cảm thức hay một đôi khi do từ cảm hứng xuất thần và sáng tạo để thơ sống thực với thơ. Phản ảnh một cách linh diệu qua cách thức phá điệu, phóng túng, diễn tả dài ḍng như văn xuôi hoặc ‘hứng’ điệu tự do để trở thành thơ vô nghĩa (nonsence poetry) là chuyện thường t́nh. Nhưng biểu diễn dưới mọi thể điệu, lời thơ phải chứa đựng chất liệu thơ: có vô duyên, có vô nghĩa, có vô t́nh hay hữu ư đă gọi là chất thơ nghĩa là có duyên thơ th́ không c̣n coi thơ là người xa lạ hay khách không mời. Rứa th́ làm cách ǵ để đạt tới hương liệu của thơ? -Chỉ có một đ̣i hỏi là thoát tục để không c̣n bị trói buộc giữa ngoại giới và nội giới. Thoát tục là không câu nệ ở chữ nghĩa, không ngại phơi bày, huỵch toẹt. Dù có chăng nhưng độc lập trong ngữ cảnh để thần thánh hóa thơ mà đi vào cơi phi; nghĩa là không c̣n phê nhận mà chỉ b́nh thơ mà thôi. Thơ ngày nay không ‘tức cảnh’ như xưa mà chứa sức sáng tạo vô biên, biến thơ từ chỗ hữu h́nh sang vô h́nh hay ngược lại. Nhờ vào những đặc điểm đó mà cảm hóa dễ dàng để rồi thành lập ra nhiều trường phái khác nhau là vậy. Cơi phi của thơ khơi dậy từ tâm thức sống động không vin vào một sự cố tầm thường hay ngợi ca cái không đáng ngợi ca để thành thơ làm thơ mất đi tánh siêu nhiên của nó. Nói theo thi nhân Bùi Giáng: ‘Đi vào cơi thơ theo lối ngẫu nhiên tao ngộ. Cơ duyên sẽ dun dủi…chẳng nên g̣ ép cưỡng cầu’(Tựa. Đi Vào Cơi Thơ. NXB Ca Dao.VN 1969).

Thơ là lực sĩ của ngữ ngôn / Poets are the athletes of language. Khéo léo của những ǵ thuộc thi ca là có thể nhận ra hầu như chắc chắn ở năng lực của ngữ ngôn (capacities of language). Lực sĩ của trí tuệ chớ không phải sức lực như ta thường thấy ở những vận động viên thi đấu. Trường hợp của thi sĩ; yếu tố làm nên phải biết ḥa nhập vào đối tượng của chủ đề (the subject) t́nh huống (the situation) mẫu mực của vần điệu và âm thanh, mẫu thức dụng văn và kỹ thuật (verbal and techniques) cái đó gợi lên một diễn tả ư nghĩa  quan trọng một cách tối đa có từ chỗ biết dụng con chữ một cách tối thiểu. Thời mới thành thơ.

Thế nhưng có một số thi nhân đă làm thơ khá lâu đời và cho đến nay thơ vẫn nằm trong dạng tùy hứng (spontaneous) không c̣n thấy ở đó cách vận dụng thơ và kỹ thuật xây dựng con chữ của thơ, vô t́nh đưa thơ vào chỗ không mấu chốt của chủ đề hoặc theo thị hiếu để làm thơ, không xây dựng trên những yếu tố cần thiết mà chủ tâm vào việc ‘sản xuất’ thơ; v́ điểm đó mà đôi khi lạc nguồn thơ. Không biết thi sĩ dựng thơ trên phương hướng nào; pha chế tạp nhạp, tắc cũng chả ra tắc mà ŕ cũng chẳng ra ŕ ngay cả thơ bốn năm chữ cũng lung tung chi điạ. V́ vậy; mà thơ không đi vào cơi thơ và để đời một cách chỉnh đốn mà trở nên bí tỷ, ấm ớ hội tề trước sao sau vậy. Thực ra lạc hướng thơ v́ ở tŕnh độ kiến thức, tŕnh độ học vấn dù cố công nhưng vẫn không chứa chất thơ một cách trong sáng và mạch lạc. Nói ra có tính vơ đoán ngay cả mấy thi nhân có trường lớp nhưng trong máu không có máu thơ cho nên làm cho có làm cốt để ḥa nhập (cooperation) với đời, ngay cả thiên phú nếu như không học tới nơi th́ thơ cũng không tới nơi. Bởi; ‘thơ tức là người’ nó rơ hơn cả văn. Thí dụ: Thi sĩ Z. đă làm thơ hơn nửa thế kỷ, sản xuất thơ nhiều hơn cả thi truyện Truyện Kiều (Nguyễn Du) hơn cả đại thi phẩm Odyssey (Homer); sở dĩ nhiều như thế là v́ thơ không dậy từ cảm thức mà thơ trở nên thói quen, lề thói; để rồi rơi vào trường hợp như thế, bởi; thi sĩ Z. mất lập trường tư tưởng để tư duy lung lạc trước hoàn cảnh của nhận thức, vả lại; vận dụng và điều ḥa không đúng đường lối của chủ nghĩa văn chương, để thơ ù ĺ và trước sau như một mà ngay tác giả cũng không t́m thấy cái sự vấp phải đó, dù đă ‘dzợt’ nhiều lần nhưng vẫn chủ quan cho là hay và trọn gói tư duy -hay là hay cho ḿnh- nhưng với thế gian là khác.Thơ dễ nhưng không dễ. Nó có cái mặt riêng của nó chớ đuổi cho được để thành thơ thời là chuyện khác. Nhớ cho rằng: thơ là hồn và phát tiết ở đó một cái ǵ siêu lư và hiện thực. Dưới mọi h́nh thức, thể loại hay trường phái nào; thơ phải có nhạc điệu (rhyme) và lư tính (theory) chính cái sự du dương, lả lướt đưa thơ vào thế giới của ảo, của vô sắc, của siêu h́nh và huyền nhiệm. Bởi; ‘làm thơ là kết hợp giữa trí tuệ và ngữ ngôn’ (Mallarmé). Mà phải phát huy theo tư tưởng tự do sáng tạo để hướng tới vô biên. Đừng đem vào nghệ thuật thơ một đức tính ‘nhẫn’ để mô phỏng cảnh vật từng li từng tí hay lập ngôn mà làm cho thơ bức tử. Vị chi; lư tưởng làm thơ không c̣n là sự thực. Có chăng là do ‘bí danh’ trở nên nhà thơ. Thơ không riêng ai. Thơ khắp nơi, khắp chốn và khắp mọi người. Đ̣i hỏi ở thơ là độc sáng tư tưởng. Ngay cả ca dao, tục ngữ, ḥ vè đúng nghĩa lư dẫu là truyền khẩu vẫn để đời. Đó là thi ca đương đại.

Thi ca là hàng đầu và tiên chỉ một thứ tŕnh diễn nghệ thuật –Poetry is first and foremost a performer’s art. Đời thơ là nói lên trong ngữ ngôn, nó nằm trong tiết điệu và tiếng vọng, là chiếm cứ những ǵ khác biệt đời và cuối của những ǵ tinh tế huyền ảo. Thưởng thức thơ là phải nghe nó nói và thấy nó làm. Trong tập Bóng Chữ của Lê Đạt (1929-2008) xuất bản 1994 là tác phẩm mà hầu hết tác giả đă vận dụng con chữ trong tư thế cách riêng giữa màu sắc và tiếng động là một nổ lực canh tân ngôn ngữ trong thơ là biểu hiện rơ nét chất liệu thơ làm nên dầu ư tứ thơ rất b́nh thường nhưng chứa đựng một tiềm ẩn sâu xa; dẫn ở đây bài thơ cùng tựa đề của Lê Đạt:

 

Chia xa rồi anh mới thấy em

Như một thời thơ thiếu nhỏ

Em về trắng đầy cong nhung nhớ

Mưa mấy mùa mây mấy độ thu

Vườn thức một mùi hoa đi vắng

Em vẫn đây mà em vẫn đâu

Chiều Âu Lâu bóng chữ động chân cầu.

 

Nhưng có khi trong thi ca chúng ta bắt gặp một phương thức khác có tính phân tích theo dạng đối nghịch, nghịch đối một cách tương thức mà không hủy tạo, nghĩa là không biến con chữ thành những mảng tách rời mà vin vào một h́nh thái để tạo cho thơ có chỗ đứng riêng biệt và lạ lùng; cái đó gọi là thể thức phân tích trong văn chương thơ (deconstruction). Đọc lại bài thơ xưa nhưng rất hiện đại của Bích Khê (1916-1946) để t́m thấy từng con chữ của thi ca đương đại; dẫn ở đây một đoạn trong Tỳ Bà:

Buồn lưu cây đào xin hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm đông quân

Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông.

 

Cùng tác giả; thử một khúc khác rất đầy tính hiện thực của những ǵ gọi là thi tứ hiện sinh. Trong bài thơ ‘Hiện H́nh’ của Bích Khê:

Phút giây người lộ mỏng như sương

-Nường tan ra nhạc? -tan ra nhạc!

Khung trắng trời mây trắng lạ thường!

 

Thành thử phát tiết thơ một cách độc sáng chính cái đó là thi ca đương đại, bất luận ở thời nào, t́nh huống nào đều xuất phát từ tâm thức sáng tạo để thành h́nh những thi tứ độc đáo. Những khi như là hủy tạo nhưng lại tái tạo –it does again as it undoes. V́ vậy những bài thơ có lối cấu trúc như trên là tách ra khỏi lănh vực thơ thông thường nói chung. Mà đó là một thủ pháp độc lập vừa cách riêng nhưng vẫn mang những nhịp điệu tượng trưng hay hiện thực đều gói gém trong chất thơ Việt; lời thơ b́nh dân và gần gũi nhưng trong mỗi chữ mỗi câu đều chứa một chất liệu của con chữ để thành h́nh những gịng thơ sáng tạo và đầy kinh nghiệm. Với thi ca đương đại vừa độc hữu vừa độc sáng mới nên thơ, nó không thể b́nh thường hóa như vô số thơ khác hiện diện giữa cơi đời. Không thể thừa nhận bởi nó là thơ phá hủy, một thứ thơ gây thương tích cho thi ca, một thứ ‘biệt kích văn hóa’ xổ óa, núp bóng thơ để phá rối luồng tư tưởng hiện đại, cổ điển và siêu thực...Đọc thơ, ngâm thơ là thấm nhuần với thơ, c̣n ngâm, ḥ, phổ thơ những thứ thơ ta bà là ‘diệt chủng’; chớ thơ đâu đó mà thơ. Đứng trên lănh vực thi ca đương đại không có một giới hạn tuyệt đối với thơ, không sắp xếp thơ vào loại thể hay khuynh hướng, trường phái, bất luận nó xuất thân từ hiện tại hoặc hậu hiện đại, tự do, vô nghĩa, siêu h́nh, h́nh thức hay h́nh thức mới, nếu như; nó thể hiện đúng chức năng sáng tạo và độc đáo th́ tự động hóa cho thể thức đương đại. Như đă giải thích thi ca đương đại bắt chụp những ǵ mới hơn cả mới; sắm đúng vai tṛ tŕnh diễn thơ mà chưa ai làm nổi; dù chỉ một câu thơ vô nghĩa hay tự do đi nữa. Nói cho ngay; thơ th́ có vô nghĩa, không vần.Văn th́ không có câu truyện, lạc đề, lạc hướng như Anton Chekhov và Katherine Manfielf  Thế mà; trời ơi! lắm kẻ say mê. Đó là cảm thức lôi cuốn chớ không vị thơ hay vị văn phải đúng tiêu chuẩn ‘thi thị khả giảng bất khả giảng chi’ (thơ nằm ở giữa cái khoảng có thể giảng và không thể giảng). Trọng tâm của thơ là cảm xúc hơn là suy tưởng. Người làm thơ phải thấu triệt đường lối chủ nghĩa thơ, mới mong đi tới con đường siêu lư của thơ. Thơ c̣n là cảm tính phức tạp của mộng mơ, say sưa, ngông cuồng và điên loạn th́ may ra t́m thấy cái đặc thù của nó. V́ cái chỗ đó mà ta không c̣n xa lạ giữa thơ tự do, không vần, vô nghĩa và tân h́nh thức đều là một giống dù nam hay nữ nhưng tạo được ngữ điệu (context) cú pháp (verbal); nghĩa là đưa những câu nói thông thường vào thơ để trở thành thơ, đọc như có vần điệu, nhảy vọt như là ‘vũ điệu của loài công’ mà vẫn tạo được nhịp điệu. Cái chuyện chặt, chấm, phết, ngắt ḍng là một dụng công để cho mạch thơ được sáng sủa hơn mà thường thấy ở loại thơ không vần (blank verse) hay thơ tự do (free verse). M. Heidegger có nói về thơ: ‘L’ouverture de l’horizon de l’Être’ (Mở một chân trời hữu thể) giữa người và vật. Dẫn ở đây một bài thơ để t́m thấy âm hưởng của thơ chứa cái chất phá thể, vô thể và vô hữu thể (unformal). Thơ vô nghĩa ở cuối thế kỷ XIX Paul Verlaine làm bài thơ ‘Pantoum négligé’ chỉ có 16 câu không ra đầu ra đuôi. Ông chú trọng vào ‘nhạc thơ’. Đọc thử xem có chứa thực chất nhạc thơ của thi ca đương đại không:

 

Trois petits pâté, ma chemise brule

Monsieur le cure n’aime pas les os

Ma cousin est blode, elle a nom Ursule

Que n’émigrons-nous vers Les Palaiseaux

 

(Ba cái bánh ba-tê nhỏ, chiếc áo sơ-mi của tôi cháy

Cha sở không thích ăn xương

Cô em bạn d́ tôi tóc vàng, tên là Ursule

Sao ḿnh lại di cư sang Les Palaiseaux)

 

Cái hướng thơ vô nghĩa, tự do không vần, h́nh thức hay h́nh thức mới chuộng ngữ thuật (jeu du langage) hơn là nghĩa đến nổi câu thơ không ‘ra đế’ mà vẫn thông. Ấy mới lạ! Có thể xếp nó vào thi ca đương đại hay cho đây là thi ca tư tưởng, bởi; một lư do chính đáng là thơ phản ảnh từ ngoại giới tới nội giới mà khám phá bằng tâm thức sáng tạo, đôi khi tưởng như mơ hồ trừu tượng, thơ là họa không màu nhưng màu sắc nằm trong con chữ, sang bằng mọi định kiến để dựng lên cho bằng được ngữ ngôn mới, nghĩa là khám phá những ǵ chưa ai khám phá đó là cái tôi vô tội vạ (self-inconnue) vô tư không biết chi mô răng rứa và chính tê mô đó là hiện thể cho một thể thơ hiện sinh. Sống thực với đời, nh́n đời dưới một lăng kính khác lạ. Trong cái khác lạ đó là tạo một chỗ đứng riêng biệt, tiết điệu của thơ tạo nên h́nh ảnh mới, phá lệ để tiêu diệt những điệu thơ cố cựu, ngay cả thể thơ cổ điển 6/8; ngày nay tư duy đó đẩy lùi để dựng vào một tư duy tự do, phóng khoáng, xác thực với đời qua ngữ điệu tân kỳ, chất chứa một tư duy phi thường, phản tỉnh được hồn người hợp thời đại, đạp đổ những tư duy ‘cậy’ vào văn chương hoặc trên cơ sở lư thuyết để lư giải, chứng minh là thứ ngữ ngôn giả tạo hoàn toàn không thực với đời mà hóa ra bâng quơ, vu vơ không sáng tỏ cho một lư luận phê b́nh nhất là khía cạnh văn chương khi nhận định về thơ. Dẫn những triết thuyết để phê nhận vào thơ là có tính chất vay mượn ngôn ngữ. Đă không sáng tỏ mà lạc đề phê nhận thơ. Cái đó là suy thoái. Thơ siêu thực là một gián tiếp đánh đổ cái giả dối thực chất. Siêu thực thơ là ngữ ngôn, là tư duy vượt thoát để t́m thấy một luồng sinh lực mới diễn tả dưới dạng thức siêu nhiên, tuy nhiên; vẫn cảm hóa được với thơ một cách ṣng phẳng. Đặc biệt của thơ siêu thực là biết dụng ngôn và nghĩa nhưng đi vào trong siêu thực vẫn có tiết điệu hài ḥa của nó. V́ vậy; thơ siêu thực có chỗ đứng riêng tư và đương đại qua từng kỷ nguyên mà chưa một lần đánh đổ. Quả vậy; người ta thường đề cao hơn là phê b́nh thơ siêu thực, đặc biệt ở thời điểm giữa thế kỷ XX. Đưa ra nhiều lư lẽ pha trôn tâm lư hiện sinh, pha trộn triết lư của những triết gia như để chứng minh, nh́n như thế là so sánh giữa thơ và triết. Thơ là hồn, văn là trí. Cho đến nay khi nói đến thơ siêu thực thường cho là thơ triết lư. Pha trộn giữa hai luồng tư tưởng như thế là vô h́nh chung tách rời từng phụ tùng trong văn chương và thi ca. Đă không ăn nhập mà phá thể cả hai. Mỗi thứ có một lănh địa riêng của nó. Dẫn ở đây một vài bài thơ có tính chất siêu thực và đương đại hơn những ǵ đương đại xưa nay. Đọc xem siêu thực của Thanh Tâm Tuyền (1936-2006) trong bài thơ ‘Bài Ngợi Ca T́nh Yêu’ :

 

Tôi chờ đợi

Lớn lên cùng giông băo

Hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai

T́m cánh tay nước biển

Con ngựa buồn

Lửa trốn con người

Đất nước có một lần

Tôi gh́ đau đớn trong than thể

Những ḍng song, những đường cây núi nhọn

Những biệt ly rạn nứt long đường…

 

Một đoạn khác khi Thanh Tâm Tuyền ở trại học tập Tân Lập K2.Vĩnh Phú (Bắc Việt)1/1979. Ông diễn tả toàn cảnh núi rừng và ḷng người cô độc. Rất hiện sinh. Đọc xem:

Vác bó cuốc nặng bước loạng choạng

Về trong xây xẩm buổi tàn đông

Lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa

Ảm đạm ḷng ta chiều cuối năm.

 

Thêm một nhà thơ khác; đầy rẫy h́nh ảnh siêu thực  giữa đời và người. Trong thơ siêu thực nhà thơ đưa vào h́nh ảnh ảo hóa giữa quá khứ và hiện tại nhưng không xa rời tiết điệu (rhyme) của thơ, vẫn phản phất một thứ thi ca lăng mạn, vô đề, tự do, phá thể dưới một h́nh thức biến thể của ngữ ngôn, hài ḥa giữa không gian và thời gian; cái thứ siêu thực lạ đời là cái thứ thơ đương đại. Đọc bài thơ dưới đây của Đỗ Qúy Toàn mang hơi hướng hiện thực trừu tượng dưới góc độ của siêu thực:

 

Con đường xưa

bóng cây đó

c̣n nao nức hương thơm

em thấy chưa

cứ mỗi t́nh yêu

lại có một con đường

để nhớ

đêm đi qua một ḿnh

sao chịu nổi

đời t́nh nhân làm khóc những ngôi sao.

 

Chủ đề của thơ là một phần cái nghĩa của nó; chỉ là vấn đề đối tượng chủ đề -The theme of a poem is part of its meaning; just as is its subject matter. Không kể chi là chủ đề hay đầu đề mà cả hai là một nghĩa bao quát. Bởi; tất cả nghĩa lư của thơ là nằm trong từng con chữ như nó là thế đứng –as it stands và không có ǵ là ít ỏi hay cạn cợt –nothing less. Thơ đương đại là chiết cấu trong từng nhịp điệu qua ư và lời; nghĩa là có một tư thế của nó, tạo con chữ, bút pháp để thể hiện ư đồ muốn nói tới trong thơ. V́; thi ca không hiện thể trong vấn đề chủ đề nhưng nó lại là cách siêu lư cho đối tượng vấn đề. Đôi khi; mục đích của đối tượng, thi ca có khi đ̣i hỏi nỗi u sầu, nỗi đau… là nguyên nhân tạo tác trong một tâm thức ‘bị trị’ bởi trí năng, như thúc đẩy để thành h́nh lời thơ, cái đó thơ gọi là âm vang tŕnh diễn ‘the performing voice’ để rồi mọi thứ ch́m đắm vào cơi không –everything sinks to nothingness. Thực tế hành động tŕnh diễn là đưa thơ vào một trung tính của cảm thức. Trong nghệ thuật có một thứ trung tính là luôn luôn bắt chụp vào đó niềm vui phấn khởi. Và; ngay trong thi ca là bước đi vào cơi ngoài /beyond; cái đó đă đi qua nhiều cảm thức khác nhau, một trải nghiệm để cấu thành ngữ ngôn thi ca -thi ca là thi ca- nghĩa là đứng ngoài ṿng cương tỏa của thi ca, cái đó không thể tránh né được; nó đến trong một cảm thức bất ngờ hay đột hứng, một trải nghiệm tự nó như một hiện hữu con người. Con đường đi vào thi ca thường có những cái chung chung và cái riêng độc sáng, chính độc sáng là ngữ ngôn ở thi ca hơn văn chương. Thi ca là nghệ thuật, một thứ nghệ thuật muôn màu, muôn vẻ, cho nên chi thi ca là đại lộ tư tưởng không thể đẩy thi ca và con đường ṃn, nhỏ hẹp; mà dấn thân để vượt thoát ra khỏi ngục tù của thi ca. Thi ca; đôi khi cũng rất chủ quan (mạnh nói) đồng thời mang tính vơ đoán (buộc phải). Nó mạnh dạng v́ nó hư cấu qua khả năng biến dị của người làm thơ. V́ vậy xưa nay cho thơ là vũ trụ thơ. Vũ trụ vô giới tính có khi ‘em’ là ta mà ‘tôi’ là người. Thơ là phải phi lư để thành thơ. Cũng đôi khi cái sự bất chợt nảy mầm trong một tri thức siêu thoát mà thành thơ. Chỉ một câu thơ ngắn ngủi của E. Kant; mặc dù Kant không phải là nhà thơ chuyên nghiệp mà lại để đời: ‘Pourquoi vert l’éternité /Thiên thu ơi sao người xanh màu lá’.Cho nên chi có làm một triệu bài thơ chưa chắc đă bằng một giọt nước thừa. Răng rứa? -V́ cái đẹp của chúng ta là cái vô h́nh. Vô h́nh chính là cái không nắm bắt được. Thi ca chiếm lĩnh điạ vị đó và rất khó giải mà chỉ đ̣i hỏi cảm thức với nó th́ thơ không phải là điều khó.

Trong thi ca hậu hiện đại, hậu siêu thực, hậu thơ mới, không vần, vô nghĩa, h́nh thức mới… của một số nhà thơ ngày nay. Đáng kể nữ thi sĩ Cát Du đă có một tư duy thênh thang, lộng gió lời thơ ‘vô ngôn’ khôn tả trong “Chiều” hay trong “Xuân Th́” và những bài thơ khác là một đả thông tư tưởng, một thứ đả thông ḥa nhập vào thế giới thơ, nơi chứa chấp những ǵ sống thực với đời, không mông mị, không trừu tượng nhưng lại là một thứ siêu lư hiện sinh. Đọc thử những vần điệu này để thấy nhịp điệu thơ theo lối không vần nhưng lại kết nối vào nhau bằng một ngữ ngôn mới lạ và tân kỳ, thoáng như ngổn ngang nhưng rất hiện thực của một thi sĩ làm thơ khá lâu mà trước sau đều mang một vóc dáng siêu thực và hiện sinh. Mỗi bài thơ là một chân dung khác nhau. Ghi lại nguyên văn bài thơ ‘Chiều’ của Cát Du:

 

Chiều sắp khóc mà anh chưa về

thấy không?

Con mắt chiều đỏ hoe!

 

Bửa nay trời lập đông

chiều một ḿnh

Chiều run

run lắm!

Em hôn lên má chiều ram rám

Nước mắt chiều chảy quanh

Nước mắt em cũng chảy quanh

Như chiều

rưng rức (2005)

 

Đi vào với vũ trụ thơ siêu thực thời mới bàng hoàng cái đương đại của nó. Những ǵ vần điệu lục bát, thất ngôn, tứ tuyệt tự động hóa vào thi ca cổ điển, niêm phong ở viện tàn cổ, ở đó; cho những người c̣n sống sót. Chúng ta là con người của kỷ nguyên, của thời đại, của chiều sâu không gian, ngay cả vi tính cũng thụt lùi trước những ǵ là đương đại thi ca hôm nay. Đọc thêm một bài thơ của Cát Du để thêm phần hào hứng đả thông tư tưởng. Tựa bài thơ: “Xuân Th́” như sau:

 

Dậy đi nào

mai nụ ơi

Các bạn em đă váy xoè vàng choé

Đang hây hẩy đợi t́nh

mà em c̣n ngái ngủ

Sao chẳng chịu hé mi

Không sợ lỡ mất cái xuân th́

Thoáng qua. (2001)

 

Nếu thử như đem bài thơ 8 câu này ra dịch Tây, Tàu chơi cho vui th́ liệu có lột tả hồn thơ thi sĩ không? -Dịch thơ là hiếp dâm v́ nó phát tiết một lần bi chừ mượn tay người khác để phát tiết th́ cạn ḍng tư duy. Cho nên chi không mong Tây Tàu Ấn Phi phải dịch. Nó có cái quyền lực ‘bất kiến tự nhiên thành’ thơ là thế đấy độc hữu và độc sáng là những ǵ đương đại tợ như thép đă tôi thế đấy. Dịch là lạc nước ốc! Vậy th́ làm sao thoát? -Nó tự xuất đúng chu kỳ của nó. Tự nhiên như kiểu trời sinh rứa mà! Cái lư đó gọi lời thơ thuộc của thi ca / The words of Poetry. Một ngữ ngôn cách riêng. Thi sĩ Karl Shapiro giải thích như sau: ‘Thi ca là làm ra cái không lời (vô ngôn) / Poetry is made of not-words’. Thi ca là phẩm chất để có đủ khả năng chớ không đơn thuần chỉ cho ngữ ngôn trong thi ca; nhưng ngữ ngôn thường dùng trong phương ngữ của thi ca. Thi sĩ giỏi là làm thơ có cân nhắc qua từng con chữ, biết chọn chữ như chọn ngô khoai, đậu đen, đậu đỏ và một cảm thức say sưa, nồng cháy cho những ǵ làm ra chớ không đơn phương gọi thơ là thơ một cách vô tư mà thẩm định do từ trí tuệ. Làm thơ có ba hạng làm thơ: thấy cá chết làm thơ yêu nước, thấy xác chết trôi sông mà động ḷng trắc ẩn thành thơ; thể loại như thế gọi là thơ thời sự nó không thể sát nhập vào gịng văn học thi ca. Thơ là của thơ, chính trị là của chính trị –but had human history not produced a single poem. Chớ đem thơ mà nhúng chàm giữa chợ đời th́ hóa ra thơ là ngầu-pín, nó hoàn toàn không dính dáng ǵ đến trăng sao mà phát tiết thành thơ. Bởi v́; thể thức ‘hồn nhiên’ là bày tỏ sự kiện nhận thấy để thành thơ. Sự thật tự nhiên là một tŕnh diễn của thi ca, tuy nhiên; cảm thức đó là một ư thức trong sáng phát xuất từ tâm thức mà ra; đó là những ǵ thuộc lư do phục vụ cho mục đích tạo thành thơ và bao gồm những ǵ cấu thành trong thơ. Làm thơ là đặc niềm tin vào những ǵ của cảm thức nó hội đủ một cách nhạy bén và vững chải, ít ra đem lại hiệu năng cho thơ. C̣n làm thơ thời sự để thành thơ cái đó gọi là thơ cơ hội chủ nghĩa. Cho nên chi muốn có một bài thơ đi vào đời là bài thơ sống thực giữa nội quan và ngoại quan, cảm hóa một cách tinh tế để con chữ sinh đúng chỗ, đúng thời và đúng người; vị chi không những để đời mà nó sẽ trở thành thời thượng của thi ca. Nếu cho là vô lư th́ thế gian này không có thơ (?).Vũ trụ này không có loài người và không có trăng sao mây gió, sông núi hay ‘ao thu lạnh lẽo’… th́ đó là hành tinh chưa khám phá và cũng chẳng có chi để khám phá mà cảm hóa với thi ca. Vậy th́ làm sao định nghĩa chữ thơ? -Trong ngàn câu thơ của Bùi Giáng chỉ nhặt ra có một câu này là đúng hồn thi sĩ: ‘tôi lớn lên giữa linh hồn cỏ mọc’. Là trọn gói. C̣n bao nhiêu câu thơ khác của ông khó mà định nghĩa rốt ráo hay đưa vào thi ca đương đại; may có câu thơ đó mà xác nhận thi sĩ đă để lại tiếng đời. Tợ như Quasimodo không có cái lưng gù th́ tác phẩm của Victor Hugo coi như không có giữa trần gian này. Cái khó là đẻ ra con chữ để ḥa nhập với đời là yếu tính. Với thơ ta phải sốt sắng với nó, cảm hóa thơ là hiểu được thơ ‘thi tại ngôn ngoại’ cảm thơ chớ không giải thơ, bởi; thơ là vô ngôn. Đạt tới cái chân không đó tất đạt tới cái đương đại của thi ca.

Đúng ra ngữ ngôn của thơ là quan tâm tới cái sự yêu cầu ở nội thức (inner) là có một ít vấn đề của ư nghĩa ngoại quan (external) là biểu thị (denotation) đó là nói lên những ǵ của cảm thức đối thoại bên trong của một ư nghĩ rộng hơn (cảm nhận, âm thanh và h́nh ảnh) đấy là cách thức tôi luyện cho kinh nghiệm về thơ tợ hồ như soạn nhạc khúc vậy. Đó là sự cần thiết của thi ca là có một vài thứ được yêu cầu một cách khác hơn. Nhà phê b́nh lừng danh Pháp Boileau gọi sự cần thiết của thơ là ‘je-ne-sais-quoi an / Tôi-chẳng-biết-tê-mô / I-don’t-know-what’. Thơ đến với thi sĩ từ một cảm thức mạnh chớ không đ̣i hỏi phải hiểu. Thi ca; đó là những ǵ tuôn ra cái ngữ cảnh của nó, giống như hợp khúc của âm nhạc, nó hiện hữu tợ như tự ḿnh gia nhập vào, tự ḿnh tuôn chảy, tự ḿnh đồng lơa, tự ḿnh giải quyết thể thức và con chữ. Nhạc tính thơ nằm trong cấu trúc thơ là câu trả lời đến với thơ. Cái không biết ǵ của thi ca là vượt giới tuyến của nhận thức. Có nhiều lư do để xác nhận ra cái vô-thức-thơ: thơ đến trong một cảm xúc tự nhiên, một gợi nhớ có từ tiềm thức, một rung động bất ngờ; đến và đi như một thoáng qua, những tác động bất ngờ chính là lúc ư thơ trào dâng  ở cơi ngoài ‘beyond’ của tri thức; thậm chí thi nhân không biết lời thơ đến tự khi nào mà như là chiêm bao nó không c̣n lưu trú trong năo thức để mà nhớ, con chữ hiện h́nh dưới một h́nh thù quái dị nhưng khác đời khó t́m thấy trong đời sống b́nh thường, một thứ ngữ ngôn thơ không thể so sánh với ngữ ngôn thông thường. Mà thực; nhiều lúc thi nhân không hiểu sự cớ ǵ đă xẩy ra trong thơ. V́ vậy; ngày nay có những bài thơ dài như đoản văn, có những cụm từ trở thành như lối diễn tả bằng lời, kiễu thức này gọi là thể thơ xuôi (The Phrase as Form) thường bắt gặp ở thơ tân h́nh thức hoặc thể vô nghĩa không đầu mà chẳng có đuôi. Lời lẽ đó là nằm trong một cảm thức, một nhóm chữ khác biệt –words are; in one sense, distinct units. Tuy nhiên; trong nghĩa khác chúng măi măi coi đó như mẫu thức trong một tiết điệu của lời thơ là một liên kết trong lối hành thơ. Ở đây thể thức nghe như lời lẽ bày tỏ chân thực, là cơ bản tiến tŕnh trong tất cả ngữ ngôn diễn tả theo dạng thức thơ xuôi; thể thức đó tạo cách riêng biệt bằng ngữ ngôn thông thường và tự nhiên tạo ra thành ngữ hay cụm từ có tính chất gồ ghề (muscular) không cắt xén, không rút gọn (irreducible) và cũng không thể lăng quên (memorable). Cái gồ ghề của thơ-nói là cái sự hiển nhiên lộ rơ  (obviousness) cái lướt qua trong tư duy (đọc thể loại này tràng giang đại hải không chịu dứt) không c̣n thấy ở đó một câu thơ đơn giản, nó có nhịp điệu riêng của nó.Thể thơ xuôi bao gồm tất cả toàn thân bài thơ từ đầu tới đuôi trong những thớ thịt cuồn cuộn của cảm xúc rung động. Cảm xúc  rung động hơn là xác định cụ thể cho trọn ư câu thơ. Lối diễn tả thơ xuôi đôi khi trông như thơ thường nhưng nh́n vào thể cách tŕnh bày thấy ngay lối nói theo nghĩa của cụm từ (phrase). Đọc bài thơ ngắn của thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh; nữ sĩ về sau chuyên xử dụng thể thơ xuôi hơn là thể vắt ḍng. Trong thơ của thi sĩ Minh dùng con chữ theo dạng cụm từ nhưng có nhạc tính du dương nhờ ở chỗ câu thơ dừng đúng lúc để cho thịt thấm gia vị, nấu lên ăn mới ngon ‘thơ’. Đọc xem bài thơ với tựa “Đưa em về” có chất lượng đó không:

 

Đưa em về mái ấm

Buổi chiều non ngậm nắng xanh cau

Em son bước Tấm

Ḷng quê bụt bống

Trời cau thơm lựng miếng trầu

Đưa em về mái ấm

Hạt cơm hồng tấm mản bát canh rau (2006)

 

Thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh một lần nữa và về sau không g̣ ép cưỡng cầu qua lối thơ theo thể thơ xuôi. Cái thể này nó không giống chi Tân H́nh Thức mà cũng chẳng giống chi Vô Nghĩa mà tuồng như thể thơ nghệ thuật tŕnh diễn (the poetry Art-performance), có khi gặp những câu ra vẻ thơ lập thể (Cubist poetry). Nó đứng cách riêng trong thơ xuôi. Thành ra thi sĩ Minh xử dụng con chữ nghe rất thường nhưng huyền bí lạ. Cái lối chấm không sang câu là thái độ của kẻ làm thơ hiện đại; cho ta cảm giác như uống rượu nh́n đời bằng con mắt lạc quan vô tư, một thứ thơ mê cung lẫm liệt cho một ‘vườn xưa’ của Zarathustra nghe ra từ người siêu đẳng đó. Một-Trời của thi sĩ Minh là ‘Buổi Đại Ngọ’ là cả một ao ước trở về vĩnh cửu như nhiên. Cái điều mà Nietzsche tha thiết kêu gọi. Thành ra trong cái hành thơ theo thơ xuôi Nguyễn Thị Khánh Minh đă đứng dậy trong vai tṛ tiềm ẩn của Apollon và Dionysos. Biểu tượng trong thơ của thi sĩ Minh tàn ẩn thứ dục tính, một biểu tượng chung cho nhân thế. ‘Trăng ơi’ là tiếng vọng của hẹn ước, không c̣n tiếng cười nào trong khu vườn t́nh ái. Lối thơ xuôi của thi sĩ Minh cho ta hai ấn tượng giữa thiên nhiên và con người; thi sĩ điều động vào đó bằng chuyện kể về thơ. Đọc bài thơ gần đây của thi sĩ Khánh Minh. Xem thi sĩ kể ǵ trong bài mang tựa đề: ‘Vườn Xưa’:

 

Về. Khép cánh cổng. Mệt mỏi. Phiền muộn. Cô đơn. Và h́nh như đăng trí quăng đâu đó chiếc ch́a khóa. Vườn thở dài.

 Về. Đóng đinh ngày tháng trên bước chân. Chiều rất im. Vườn rất vắng. Giọt vang đáy ly quánh đỏ hoàng hôn. Sẽ không bao giờ uống cạn nữa. Cùng ai.

 Đêm khép buồn. Trăng ơi. Khuôn mặt dấu yêu xa. Không c̣n tiếng cười nào bay ra khỏi khu vườn. Lặng im ngần ngại. Bức tranh chim bóng tối.

… Người tan vào nơi không có Hôm Nay hay Ngày Mai. Dưới chân trôi qua bao mùa lá cháy.

Ở cuối vườn mặt trời đang lên. Tiếng chim hót sáng. Nó hót. Nó giục giă. Đặt vào tay người chiếc ch́a khóa nhặt lên từ bụi cỏ. Này, hăymở cánh cổng thời gian. Ngoài kia có một. Hôm Nay chưa là quá khứ. (2014).

 

Tuy nhiên; thơ không trú ngụ trong thế bị động. Nhạy cảm là cái cần thiết của thi sĩ kể cả những ǵ dính dáng trong đời đang sống, những ǵ mang lại niềm vui hay buồn khổ đều được chú ư đến bằng một ngữ ngôn th́ thầm, thổn thức qua  miệng lưỡi của thi nhân, lời lẽ đó vang vọng hầu như sâu lắng trong kư ức và trong phản ứng tự nhiên, tiết tấu thành thơ là những ǵ mà thi nhân cảm xúc đến như cảm thấy ở đó một sự ǵ quyến rũ (pouvoir de seduction) Mà trong sự quyến rũ đó chính là đánh dấu qua từng dữ kiện để dựng nên thơ bên cạnh một hiện hữu sống thực của nỗi đau và hạnh phúc. Dĩ nhiên; ngữ ngôn thơ là phương ngữ thi ca (dialect poem) nghe ra khó nhưng ghi nhận con chữ ở đó như một nhắc nhở cho điệu thơ chuyển hóa cùng tư duy để cho thơ trọn ư, trọn t́nh, cho nên chi; thơ chuộng phương ngữ thi ca gần như một ‘cấu trúc’ để chữ thơ không đi ra ngoài ư thơ là ở chỗ đó, nhiều khi chữ thơ đọc ra nghe ‘xuẩn’ vô cùng!.Dù cho cơi ngoài của ngữ ngôn xa lạ, tuy nhiên đó là một yêu cầu chú ư đến một cách cẩn trọng để đạt thi vị thơ –Even beyond the strangeness of the lanuage, however; the poem requires careful attention. Về việc đối thơ (antipoetic) xưa nay gần như một thể thức thân hữu đọc thơ, ngâm thơ có khi gọi là ‘đêm thơ’ nghe như đứng riêng một cơi; nếu như cơi đó đặc thù dành cho tư tưởng thi ca. Ḥ giả gạo dưới đêm trăng ngó rứa mà đi vào thời thượng của thi ca. Ở đó cũng có một cảm thức để miêu tả từng đoạn thơ: có khi dịu dàng dễ thương và có khi châm biếm hài hước. Chính trong cảm thức sâu lắng là lúc con chữ trổi dậy. Cái trổi dậy bất ngờ là siêu lư thơ. Đọc tập thơ xưa: “Sóng Vỗ Mạn Đời” của thi sĩ Cung Thiêm có những chữ thơ rất ngạc nhiên ‘lối về vàng một bóng từ qui’ hay ‘nắng vàng c̣n gợn thoáng lưng ong’. Trong bài thơ ‘Nón’  chơn chất nhưng rất hiện sinh. Ngắt một cành cúc vàng, gậm vào b́nh độc để dâng tặng người trăm năm; thoáng qua như một thứ ngữ ngôn b́nh thường không thấy chi là bị động của thơ mà lời thơ là lối ‘thuật hứng’. Nó qui tụ trong h́nh thái vừa siêu h́nh, vừa trừu tượng.

Tôi không mua cây lá trên ngàn

tôi đâu bán bài thơ phố tím

tôi chỉ là chàng xe thồ chở nón

đem rừng thăm lại phố xưa

đời đi qua một ngày gió động

quai t́nh tôi buộc nắng mưa. (1998)

 

Rút lại; Thơ là cái thuộc thi sĩ, thuộc thi ca hoặc gọi cho đúng thời thượng thơ –Verses is a poetic or fashionable poem; là cái của thơ. Nhưng mục đích để làm nên là một thứ diễn tả qua con chữ. Hầu như là điều không thể dễ dàng, nếu nó không tuyệt nhiên cho là điều không có thể dễ dàng, bởi; thi sĩ đánh lận một cách tha thiết trong lề thói này mà không để lộ ra cái sự bội phản ở chính nơi thi sĩ, một thứ nhàm chán ê chề và sáo ṃn ngôn ngữ của thi sĩ. (tợ như thi sĩ Z. đưa chữ thơ vào ngỏ ngách g̣ đống ngổn ngang là một gián tiếp đánh lừa con chữ). Nó không nằm trong cụm từ của thi ca mà đó cũng chẳng phải lư tưởng để nói nên thơ. Thành ra muốn có một câu thơ hay bài thơ để đời là độc lập trong tư duy, trong nhận thức siêu đẳng, nghĩa là dựng nên cái chưa ai từng dựng nên, ngay cả con chữ hay thiết kế câu thơ phải độc đáo và nằm trong dạng đông cứng (concreted) một thứ độc quyền dành cho thơ. Đi vào con đường thi ca đương đại không thể đi trên con đường ṃn, hẹp ḥi, nông cạn để gọi tên; nó là một ngữ ngôn siêu việt, ngoại hạng nghĩa là không đồng hạng mà đă đồng hạng th́ ai gọi là đương đại; dù cho trước đây hay sau này. Nó khống chế trên mọi khiá cạnh khác của thi ca, mà chỉ một không hai là thứ thơ truyền lưu nhân thế như đă tŕnh bày. Phạm trù thơ đương đại là ở chỗ đó ./.

 

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. Lễ Tạ ơn. 10/2016)

 

ĐỌC THÊM: -Thi Ca Đương Đại (I) / -Viễn Cảnh Hậu Hiện Đại (Vấn đề trong nghệ thuật đương đại) / -Ư thức Mới trong VHNT của vơcôngliêm. Hiện có trên một số báo mạng và giấy trong và ngoài nước.

 

trang vơ công liêm

art2all.net