vơ công liêm

 

TRỞ VỀ VỚI KIỀU

                                                 TRONG TƯ THẾ HỒN NHIÊN

                                                                               ’Nhật mộ hương quan cộng nhất sầu’*

 

                  Head/ Cái đầu ( tranh Vơ Công Liêm)**

 

Khi tôi bừng thức dậy, ám ảnh mọi thứ giữa đời như ấn tượng xô đẩy ngả nghiêng, trộn lẫn vào nhau -quand je me suis réveillé, j’ai eu l’impression d’avoir tout mélangé- ’Tôi’ ở đây là tôi của nàng Kiều, một cái tôi chung, một chỉ định từ  mỗi khi đă ’hoàn hồn’ thức tỉnh (to awaken), đó là tâm lư nội tại, một bất chợt đơn thuần nhưng trong cái tư thế đó chính là cái chao đảo, rối loạn tâm tư, chính những trạng thái đó âm hưởng phần nào tương quan tâm trạng của Thúy Kiều từ khi mới lớn cho đến khi bước vào đời; với đầy đủ mộng mơ của một cơi đi về hạnh phúc, nhưng cơi mộng trở về không có thực, để rồi chấp nhận thương đau, dấn thân, nhập thế, con đường trước mặt Kiều là cả một đánh đổi thương mong ’compassiononate’. Không riêng Kiều mà tư thế hồn nhiên như đă an bài cho mỗi chúng ta. Cho nên, trong cuộc đời thực trạng làm người đều nằm trong qui tŕnh của thời gian và chính lẽ đó mà hồn nhiên không thấy thời gian. Tuổi trẻ không thấy ḿnh là thời gian. Kiều cũng thế; để rồi thương vay khóc mướn. Không riêng Kiều; ’Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu’. Âu cũng là lẽ thường.  

Cuộc đời và thời gian bắt đầu từ đây. Thức dậy -réveil/awakening- để nhận ra thời gian, v́ thời gian là cơ sở, là yếu tố hủy diệt. Thời gian là cuộc đời. Quan Viên Ngoại và Kiều là đối tượng của thời gian, hai cái nh́n khác biệt nhau nhưng tựu chung là một. Kiều rơi lệ với cha là một cái giá đánh đổi, Kiều biết đau xót nhưng không thể ngăn được. Trong La vie En Fleur  của Anatole France, có đoạn viết: ’Cuộc đời con người hoàn toàn đau đớn và không khi nào dứt được những mối thương đau…’ cho nên trong thương đau cũng có cái sung sướng của đau thương; trong hạt lệ vẫn có vinh quang của hạt lệ.

Đau thương là ư nghĩa cuộc đời, một hiện thể của con người. Cuộc đời đang sống là đấu tranh với hạnh phúc, do đó con người phải biết chấp nhận đau thương để trả cái giá hạnh phúc. Kiều là nạn nhân của sự chọn lựa bi thương và hạnh phúc. Cái sự cớ đó đưa tới nước mắt, nước mắt nằm trong cơi vô thức của Kiều; khóc cho cuộc đời, khóc cho chính ḿnh, hạt lệ đó chính là thân phận con người, trong đó thân phận con người mà Kiều đang thủ giữ là cái khóc âm thầm và trầm thống :

                                              ’Khóc than khôn xiết sự t́nh’...

                              ...’Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm’

 

Khóc thầm của Kiều là nước mắt khô không lệ. Đó là tiếng khóc mà Thượng đế an bài trong chúng ta. Với tư thế hồn nhiên; Kiều đánh mất hiện hữu, nhất là hiện hữu đó lại là một hiện hữu của tâm trạng, không c̣n là tính cách vật lư nghĩa là không phụ thuộc vào sự chuyển vần của ngoại tại nhưng vẫn ư thức sâu xa hiện hữu tính của ḿnh. Thành thử qua sự chuyển vần ngoại tại và ư thức hiện hữu, đấy là thời gian hiện sinh của Thúy Kiều. Cho nên chi ’kiếp người’ là cả biến động với thời gian; đổi thay theo tâm trạng, đổi thay theo nhịp đời. Bởi trong tư thế hồn nhiên con người không thể biết ḿnh biến dịch và Kiều cũng ở trong biến dịch hồn nhiên đó:

                                                ’Sen tàn, cúc lại nở hoa

                                      Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân’

 

Đấy là sự bắt gặp giữa hiện hữu và vô tri (inconnu/unknown) qua thời gian, ’trở về’ của tư thế vô tư có nghĩa là không biết chi cả, Kiều đang ở trạng thái của sự trở về ’rever’ với cơi mộng mà mộng của Kiều là mộng ảo!

                                              ’Tiếng sen sẽ động giấc ḥe....

                                    ... C̣n ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng’

 

Điều ấy cho chúng ta thấy được tâm lư nội tại ở Kiều, một tâm lư hiện-sinh-hữu-thức đưa đến vô-thức-trung-ḥa của mộng. Chính cái sự lư phủ phàng nầy Nguyễn tiên sinh đă nhấn mạnh rơ ràng như một qui tŕnh thời gian và con người:

                                                ’Trăm năm trong cơi người ta’

Lời thơ mở đầu như nhắc nhở; trăm năm là thời gian, cơi người ta là hiện thể, hai yếu tố nầy trở nên qui luật mà con người phải nhận lấy khi mở mắt chào đời cho đến khi nằm xuống. Thời gian là nhân chứng của con người, thời gian đi mà con người không đi, con người chết mà thời gian không chết, đó là hiện tượng dung thông mà chỉ thốt lên lời ai oán để nhận lấy.Thốt nhưng không Than, v́ than là mất tính hiện hữu. Thốt hay than là một. Không! Nói như thế là không có thời gian hiện hữu, thời gian xă hội và thời gian con người. Thốt là ngậm đắng như Nietzsche đă nói trong Zarathustra: -Thốt để được trở về và Kiều muốn trở về trong tư thế hồn nhiên đó!

                                                 ’ Đau đớn thay phận đàn bà

                                           Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung’

 

Giữa hoàn cảnh đó; ngoài thời gian hiện sinh, bao hàm hiện hữu tính của con người. Nguyễn Du đưa vào trong Đoạn Trường Tân Thanh một thời gian Vô-Tri /Unconscious đẩy Kiều vào ’nhập thế’. Kiều đă sống 3 nhịp đời khác nhau với đời. Mà gịng đời đi qua trong Kiều là h́nh thể của vô-tri-tính nằm trong hiện-hữu-tính của thời gian. Vậy ’trở về với Kiều trong tư thế hồn nhiên’ là một lư tính giữa vô-tri và hiện-hữu, cả hai được qui về cùng một thể. Cho nên tâm lư sự thể và vật lư sự vật đă tạo nên một trạng thái khác không kém phần quan trọng; ấy là sự chán chường, buông xuôi, chấp nhận như chuộc tội, biết rằng đó là một hiện hữu phi lư. Nhưng thật ra; nh́n vào tâm thức con người, sự bi đát đó không phải một hai là thời gian mà chính là thân-phận-làm-người, ngoại vi của cuộc đời Nguyễn Du cũng là thân phận, người đă nhận lănh như an bài, đau đớn chấp nhận để trở về với mộng ban đầu nơi ngọn Hồng Lĩnh với ḍng sông Lam, mơ về thú điền dă... Đó là tâm hồn của con người đang hướng ngoại để t́m nơi trú ẩn, một ư tưởng vượt thoát của Kiều, vượt thoát ra khỏi quá khứ của Kim Trọng và Thúy Vân, vượt thoát những vướng mắc đưa đẩy rồi đẩy đưa Kiều vào hoàn cảnh chán chường, buông thả, một hợp thể của đoạn trường. Thật vậy, nhân gian cũng thường nói ’đoạn trường ai có qua cầu mới hay’, đó là nỗi bi thống của Kiều nằm trong vực thẳm của Nguyễn Du, có thể là sự cớ che lấp bản ngă của ḿnh(?). Tất cả trở về trong tư thế hồn nhiên, một hành động che lấp để được b́nh yên; dù rằng Kiều đang đối diện với sự thế, lấy cái vô tư để khấp lỏa ’nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân’. Một lối dự phóng thời gian của Thúy Kiều, nảy sinh từ sự chán chường của hiện hữu phi lư, điều mà đời kết nạp cho Kiều, giờ đây chỉ c̣n là tiếng đồng vọng như lời ai óan, như đoạn trường, dự phóng nầy là biểu lộ một nỗi niềm sợ hăi về đời người về cuộc sống, về thời gian hiện sinh, về thời gian tâm lư mà bản thân Kiều cũng như Nguyễn tiên sinh phải chịu nhận để sống c̣n, chính nhờ vào tư tưởng thâm hậu đó Kiều mới hiện hữu tồn lưu (existence) tác động từ vô thức ngoại giới như một hiện tượng lướt qua trong đời :

                                                         ’Mai sau dù có bao giờ’

Đó là hoài vọng của những con người rơi vào tuyệt vọng, thất chí để chờ xem ‘thời gian’ và ‘trở về’ làm được ǵ với tư thế hồn nhiên :

                                                 ‘Đốt ḷ hương ấy so tơ phím này’

Từ tất cả bi thương mà Kiều nhận lănh là ư thức bất măn, chán chường không chịu được những giới hạn của phút giây đang hiện có và phút sống hiện tại. Baudelaire cũng chua xót kêu lên trong Spleen de Paris : ‘Any where out of the world’ bất cứ ở đâu của thế giới loài người đều chua xót, chứa đựng một khí hậu xấu xa -il fait mauvais- một sự phẫn nộ trong người.  Chính là lúc Kiều muốn sống ngoài cuộc đời này, ra khỏi thế giới của người đời như Baudelaire ; v́ nhận rơ sự bất tương, bất đồng của gịng thời gian trôi chảy, cái sự lư đó là chấp nhận hiện hữu sống để được sống c̣n (survival/survivre) dù là thảm họa sẽ xẩy đến.

Qui nạp những t́nh huống như thế cho nên Kiều luôn luôn mơ về, dù mơ về với mộng ảo, muốn vượt qua tất cả mọi thực tại, mọi biến cố cũng như những trung gian đưa đẩy Kiều, ngay cả cửa Phật cũng đem lại khổ sở cho con người trong hiện hữu. Một hiện hữu tha hóa, một xă hội tha hóa, một chế độ phong kiến hủ hóa. Kiều hay Nguyễn Du đều là nhân vật sống thực, một kiểu thức ‘existential’ để rồi quay về với tư thế hồn nhiên. Cho nên con người ở thời điểm đó chỉ biết ‘ngậm đắng’ :

                                                    ‘Đau đ̣i đoạn, ngất đ̣i hồi

                                                 Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê’

 

Nhưng phải nhận ngay rằng, những giai đoạn đời đẩy Kiều vào hầu hạ, đẩy Kiều vào ‘lầu son gác tiá’, đẩy Kiều đi tới cái chết, đó là ư thức sống dậy réveil/awakening để đưa Kiều về với thực tại của thời gian, tức giá trị hiện hữu hoàn cảnh. Cái cơ bản đó là cơ bản của vọng lai để chờ đợi giải thoát. Muốn được giải thoát Kiều phải có một tư thế sống hồn nhiên để được thương mong, đó là tâm lư nội tại. Nguyễn Du dàn dựng như thế là hợp lẽ với đời. V́ sao ? Thưa rằng nhân vật Kiều là kẻ bi-hùng-tráng nhưng đành sống trong yếm thế. Xem lại thời gian sống của Kiều : 15 năm lưu lạc là một tại thế của sự thất bại hoàn toàn. Kiều bị ‘quẳng’ vào đời, ném xuống hố tuyệt vọng, đứng ‘chịu đ̣n’ với đời, hứng chịu ‘bề hội đồng’ ở lầu son, phỉnh phờ, lường gạt. Tất cả Kiều nhận tất không một mảy may ; nhận trong chua xót, trong bi thiết, trong bao nhiêu đớn đau của đời người. Thúy Kiều hóa thân từ Chánh Huệ để nhập vào Tà Huệ. Đó là thảm kịch đời ! Có nên đẩy Kiều vào một góc tường nào đó nữa không ? Hay phải đợi ba trăm năm sau rồi khóc. Trễ ! nên khóc bây giờ trước khi chết, đừng khóc khi đă chết ; đó là ư tứ của Tiên Điền nhắn gởi.

Giữa hai hoàn cảnh khách thể và chủ thể họ sẽ xử lư như thế nào ? Cả hai thứ nầy đều sống thừa dù xă hội hôm qua hay hôm nay. Cho nên chi hủy diệt con người khách thể, hủy diệt con người chủ thể là cứu con người bản thể tức cứu Kiều ra khỏi những háo hức, vụ lợi vô ư thức. Nguyễn Du đứng trước một không gian đối tượng của vọng lai để làm sao cho Kiều sống như trở về tư thế hồn nhiên. Nỗi đau ấy phát tiết như sau :

                                                       ‘Thân sao thân đến thế nầy

                                                 C̣n ngày nào cũng dư ngày ấy thôi’

                                                                            

Đấy là luận chứng luân lư về thời gian và con người, hai vị trí nầy là tâm trạng khắc khỏi của bi thương, một ‘đoạn trường cho hết kiếp nầy mới thôi’. Vũ trụ con người chính là thời gian nội giới, sự chuyển vần của gịng tâm thức để đưa con người đến toàn diện hơn. Kiều là kẻ đứng trước tâm thức đó, đối đầu với thời gian xă hội, mà thời gian xă hội chính là thảm kịch. Trong sự phối hợp giữa ḿnh cùng ngoại giới, con người phải tuân theo như mệnh lệnh của luật chuyển di hay hủy diệt, điều đó như phát sinh ra cái gọi là ‘tài mệnh tương đố’ để trở thành h́nh thể của nhân sinh quan. Từ nhận định khái quát, về sự phối hợp tất nhiên giữa ngoại tại và nội tâm để tạo nên một thể thời gian qui định của đời, cái đó thuộc thời gian của con người và thời gian xă hội, hai sứ mạng nầy liên kết với nhau để tạo nên một vũ trụ riêng ḿnh. Bao nhiêu biến động trong đời Kiều là số phận, một số phận riêng tư nhưng đồng thời bao hàm thân phận đàn bà phải trải qua những cuộc bể dâu là biện chứng từ ngàn xưa của nhân loại. Trong Kinh Thi cũng nhắc đến ; ‘cổ lai tài mệnh lưỡng tương phương’ Thúy Kiều là nạn nhân bi đát của thời đại, Kiều là đại diện sự thật của thời gian, thời gian của số phận được vận chuyển vào trong ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ bằng một gịng thời gian như nhiên của vũ trụ ; bao gồm vũ trụ con người, vũ trụ thời gian và vũ trụ xă hội đó là một liên tŕnh của 3 thể luân hoàn : khách thể, chủ thể và siêu thể. Đối với Kiều ; ‘mai sau dù có bao giờ’, dù hoạn nạn hay bi thương, vinh hay nhục vẫn son sắc với đời, vẫn trở về trong tư thế hồn nhiên để giữ được cái thế an nhiên tự tại :

                                                    ‘Bắt phong trần, phải phong trần

                                               Cho thanh cao, mới được phần thanh cao’

 

Đó là lời cuối trong đại thi phẩm vĩ đại của Nguyễn Du. Một đại thi hào Việt Nam và cả thế giới. Cốt tủy của truyện thơ là nói lên triết thuyết nhân sinh. Nói lên tính nhân bản, có lẽ cho tới ngày nay người ta vẫn c̣n suy ngẫm về chân lư đó. Cho nên lư luận Kiều tức nói được nỗi ḷng của Nguyễn Tiên Điền, người đă gởi xác và hồn vào trong một tinh anh sáng ngời đó cho muôn thế. Không có hạt lệ nào bi thương hơn Đoạn Trường Tân Thanh và cũng không có tiếng thơ nào bi thiết và trầm thống như Kiều. Nó vẫn măi măi là gịng thơ đương đại và thời thượng. Hơn hai trăm năm qua chưa có một thi văn nào nhỏ xuống những ḍng huyết lệ như thế. Thiết nghĩ ngày nay có tâm trạng đó chăng cũng chỉ là ‘mua vui cũng được một vài trống canh’ chỉ là chiếu lệ cho vui với đời thôi mà ! Làm sao có được một nhân vật thi bá như vậy. Có ! nhưng có của lớp phường chèo mượn tiếng mua danh. Rơ khốn !   

 

VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab Family-day 2/2012)

______________________

 

* ‘Bóng xế quê hương một nỗi ḷng’ Hán Dương văn diễn-Bắc Hành Tạp Lục. Nguyễn Du.

** Tranh vẽ : Cái Đầu. Khổ : 12’X 16’ trên giấy cứng. Acrylics+Oilstick+India ink+Mixed. vcl 2009.

SÁCH ĐỌC :

-  Truyện Thúy Kiều. Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim. NXB Đại Nam. Không ghi ngày tháng năm phát hành. Hiệu Khảo : Trần Trọng Kim : Hà-nội, Năm Ất Sửu 1925.                                                                                               

  

 

 

art2all.net