vơ công liêm

 

VICTOR HUGO

DANH TÀI Của THỜI ĐẠI

 

 

 


     Lời ngợi ca nầy có ngoa không? André Gide đă phải thốt lên rằng: ‘Hugo...hélas!’. Nghe như than thở, như hoài niệm về một tài hoa nhân loại. Thiên Điạ Nhân ba vị trí tuyệt đối ở cơi đời; Hugo xứng đáng đại diện cho nhân loại ngày nay. Một thiên chức đúng nghĩa. Gide đă có lần nói: ‘Ai là tác giả lừng danh Pháp quốc ở thế kỷ thứ 19”(Who was the greatest French author of the nineteenth century) Ông trả lời ngắn gọn như miả mai: ‘Victor Hugo một con người bất hạnh’. Đủ quá đi thôi. C̣n nói ǵ hơn cho một con người như Hugo: Một cuộc đời sáng chói, bao la rộng mở, không những với thi văn siêu việt, c̣n là nhà biên kịch, lư luận, phê b́nh mà tất cả siêu lư đó c̣n lưu truyền đến ngày nay. Hugo đă sống và làm việc như một đỉnh cao trí tuệ, sáng láng và thăng hoa. Một cuộc đời rộn ràng, trộn lẫn giữa đời riêng và đời chung. ‘Ego Hugo’ đó là tiếng than tận đáy ḷng ông. Có phải đó là lời kiêu hănh cho một con người tự hào như Hugo? Hay đây là lời ngạo mạn, kiêu căng, một thái độ bất tuân, bướng bỉnh, không thỏa ḷng. Không! Chỉ là luận điệu gán cho Hugo qua lời ta thán đó. Mà phải hiểu ở đây là lời tự trách, ghét bỏ ḷng vị kỷ trong người Hugo. Victor Hugo đă khống chế văn đàn Pháp hơn sáu mươi năm. Ông đối xử ṣng phẳng cả hai mặt quân dân và những ǵ thuộc về cách mạng; Hugo được quần chúng tôn thờ như người hùng dân tộc, dẫn đầu nền văn học Pháp và mở đường trào lưu Lăng mạn vào thời đó. Hugo với một đam mê vô tưởng, một năng lực kinh hoàng và một tính ngông pha một ít lập dị, một thảm kịch đời đă vượt xa trong ư thức của một nhà văn, đặc biệt trong những tác phẩm vĩ đại của ông để lại và c̣n vang vọng qua mấy thế hệ ngày nay.


Đi t́m đích thực con người Hugo vô h́nh trung chúng ta lạc vào cổ Hy Lạp của Odyssey, một bản anh hùng ca huyền bí lẫn lộn, lôi cuốn vào cuộc khởi nghĩa cách mạng Pháp: máu, nước mắt và mồ hôi chảy lên người nổi dậy, bức chế để từ đó sản sinh ra nền Cộng ḥa Pháp(1848-1871) và giữa cảnh ngổn ngang g̣ đống đó hiện ra một Victor Hugo chứng nhân của thời đại lịch sử. Dẫu rằng ở một xă hội cuồng si, chết chóc, tù đày…tất cả xẩy ra trước mặt ông, không thể cầm ḷng và từ đó nhào nặn vào sáng tạo nghệ thuật, vẽ lên một bối cảnh của con người và xă hội, đi vào thi ca, hội họa và những áng văn chương bất tử như ‘Những Kẻ Khốn Cùng/ Les Misérables’ và ‘Thằng Gù Thành Đức Bà/ Notre-Dame-de-Paris’ với những kịch bản và nhiều b́nh phẩm khác. Victor Hugo một cuộc đời sôi động -a tumultuous life-từ khi chào đời cho tới khi nằm xuống. Một cuộc đời hào hùng của kẻ sĩ.
 

Victor Hugo là bực thầy loại thơ trữ t́nh, một tiểu thuyết gia chuyên nghiệp, một biên kịch lăo luyện, một luận thuyết giá trị với một kích thước uyên bác, một nhà cải cách xă hội sâu sắc và tinh tế. Từ đó Hugo trở nên tượng thần quốc gia trong suốt cuộc đời ông.

 

Hugo có một cá tính đặc biệt, ông không giống người ta ở cái chỗ không lập dị cho cái bi thương lăng mạn, mà ông dựng lên một cái ǵ bất tận như cái phao nổi bềnh bồng; ông yêu dục tính, ăn nhậu và thú điền dă. Một con người độ lượng kẻ cả và luôn đem ḷng thương đến những kẻ bất hạnh trong đời, một thể thức giải thoát và làm tốt cho đời và cho người. Victor Hugo được nh́n nhận là nhà văn chuyên nghiệp, ông luôn đứng trên lập trường tự do, bày tỏ trước quần chúng cũng như trên sân khấu, Hugo trở nên nhà hùng biện cho chính nghĩa tự do dân chủ trong thời chiến cũng như trong thời b́nh. Tuy nhiên; chúng ta có thể quên một đôi điều của Hugo, thẩm quan của ông có một giới hạn rơ rệt nằm trong bầu khí quyển của đấu tranh giữa biểu hiện Ánh sáng và Bóng tối, giữa Thiên đường và Điạ ngục. Sự nghiệp của ông phản ảnh được phần nào cái sa ngă của Pháp quốc để rồi t́m kiếm một thế quân b́nh chính trị vào thời ấy ở thế kỷ thứ mười chín. Cái thời mà đất nước nằm trong tay chuyên chế và vô chính phủ. Vua là đấng quân chủ cầm quyền của Pháp(987-1789) một giả thuyết phải có (supposedly) như luật định bởi; ‘Thượng đế đ̣i hỏi điều đó để canh chừng con chiên’. Con người vốn hư hỏng, vốn tội lỗi, nhưng viên chức (vua) phải thuộc về thần thánh để điều hành. Déclaration des droits de l’homme et du citoyen (1789) Đệ nhứt Cộng ḥa khởi từ vua Louis XVI nối tiếp cho đến Đệ nhị Cộng ḥa (1848) mở ra một thể chế tự do dân chủ ở Pháp và Âu châu.

 

 

Những Vần Thơ Đầu Đời.


Sự nghiệp khởi đầu của Hugo được bao che bởi một thời phong kiến; cha mẹ ông bất đồng về điều này. Ông bắt đầu in ấn và phổ biến thơ dưới thời kỳ phục hưng chỉ ít năm sau Napoleon lưu đày. Ở tuổi 15 giọng thơ phát tiết tài năng và từ đó ông sáng tạo không ngừng. Thơ trữ t́nh Hugo chiếm trọn cảm t́nh của giới yêu thơ, đặc biệt phụ nữ từ cung cấm đến thành thị. Hugo sanh ra đă phảng phất một dáng dấp lăng mạn, trong đôi mắt, nụ cười, trong tánh khí ngang bướng và trào phúng. Từ tuổi mới lớn, tâm hồn Hugo đă chứa nhiều giấc mơ trong tâm năo, ông đă làm thơ 12 vần có niêm luật theo thể 2 nhịp (alexandrine) những vần thơ duyên dáng dị thường và gợi h́nh quyến rũ, hầu hết phát ra từ những giấc mơ. Trong ṿng ít năm sau thơ ông đă chứng tỏ một tŕnh độ nghệ thuật cao, một lối diễn tả cách riêng của thơ và một thể thơ có thể là đối thủ với những nhà thơ Âu châu mà thơ chỉ có Shelly và Goethe chớ không c̣n ai hơn. Hugo ở trong hàng ngũ đó. Thơ ông đă tràn khắp nước Pháp và lan dần khắp mọi nơi. Ngày nay thơ văn của Hugo không c̣n xa lạ đối với quần chúng trên thế giới. Nói đến Victor Hugo là nói đến Pháp quốc.


Loại thơ trữ t́nh (odes) của Hugo được diễn tả qua nhiều cách thức khác nhau và trong cái khác biệt đó vẫn tập trung trong ba điều kiện: Thơ trữ t́nh ngợi ca t́nh yêu theo dạng cổ thế kỷ thứ 6 (Anacreontic) thường t́m lạc thú t́nh yêu để phổ vào thơ. Thơ đối thoại gần giống như ‘ghi’ chép lại thành thơ gởi cho bạn bè (the Horatian conversational poems, rather like a letter to a friend) Và; một loại thơ ‘gia huấn ca’ (moral exhortation) trong đó phát nguồn từ tôn giáo, ẩn chứa tinh thần yêu nước, phản ảnh định mệnh của con người qua các đời phong kiến và các triều đại, thể đó gọi là (Pindaric). Ngoài ra Hugo thường pha giọng thơ mai mỉa, châm biếm hài hước nhưng nồng nàn. Một bầu khí quyển trong sáng, kỳ diệu phát hiện về một viễn ảnh tôn thờ thượng đế và thần linh.

 

Thế kỷ thứ mười tám sáng chế ra ‘thể thơ luân lư/moral ode’; có nhiều thi sĩ tŕnh bày năng lực về h́nh ảnh ảo giác bởi nhân cách hóa vật thể có tính nhân hạnh đó cũng là một phần bất tử trong thơ ngày ấy. Hugo bám vào điều kiện đó trong một dạng thức có sớm trước đây trong thi ca của ông ‘Ode à l’Amitié’ ở những năm 1816, ông bày tỏ t́nh hữu nghị giữa các nữ thần. Thông thường thể thơ luân lư thể hiện tính yếu của con người qua từng tiết điệu của thi ca, cho nên thi nhân thường khi tỏ rơ và có phần tiên đoán trong cảm hứng. Hugo đă xử dụng thể thơ có tính giáo huấn xuyên qua các triều đại trong thể Pindar để làm sao thích nghi, phù hợp vào lối thi ca trữ t́nh hoặc những nhà thơ đương đại t́m thấy ở nơi ḿnh là nguồn sáng tạo qua từng lời, từng chữ cho bài thơ, câu thơ trở nên bất diệt và tăm tiếng. Thực như thế ở vào tuổi 54 (1856) thi, văn của Hugo đă lừng danh, đặc biệt những bài thơ trở nên nổi tiếng và tạo ưu thế trên văn đàn: ‘Les Contemplations/ Trầm mặc’ là được nhắc nhở nhiều nhất. Thành công của Hugo nhờ vào sự điều ḥa qua một cảm giác nửa thương nửa ghét đối với giới thượng lưu quan liêu một dấu ngoặc mở ra: bảo vệ những kỳ quan kiến trúc và đỉnh cao văn hóa của một thời đă qua. Đây là một đầu óc táo bạo phản ảnh qua bài thơ tăm tiếng ‘La Bande noire/Hắc đảng’ (1822-1823). Đó là một cố gắng say sưa đầy xúc cảm xây dựng bằng một kiến trúc để bảo tồn ngôi vị; có thể điều đó cho thấy rằng ở đây là cả một sự pḥng ngự cho vương triều Pháp quốc, một vương triều được phục chế để xuyên qua những ǵ có tính hoà giải bất bạo động. Đọc một đoạn thơ ngắn trong thể thơ trữ t́nh (OP) của Hugo để thấy được t́nh yêu đất nước và con người ở trong ông:


O francais! Respection ces restes!
Le ciel bénit les fils pieux
Qui gardent, dans les jours funestes,
L’héritage de leurs aieux,
Comme une gloire dérobée,
Comptons chaque pierre tombée ;
Que le temps suspende sa loi ;
Rendons les Gaules(1) à la France,
Les souvenirs à l’espérance,
Les vieux palais au jeune roi !
(Odes 2,3)


Nhân dân Pháp ! hăy tôn kính dấu tích nầy !
Trời ban ơn lành đến con chiên ngoan đạo
Người che chở cho ta, trong những lúc gian nguy,
Tránh xa thừa kế của họ để lại
Đừng v́ bả vinh hoa mà vồ chụp lấy
Xem như đây là tảng đá rơi;
Để cho thời gian ngừng lại mà xa đi chướng ngại;
Hăy cho chúng ta phục hồi một thời xa xưa Pháp quốc
Hoài niệm của niềm tin
Lâu đài xưa cổ dành cho v́ vua trẻ!
(1) Gaules: được xem như loại thơ cổ của Pháp ở thời Trung Đại gọi là thể thơ ‘La Gaule-poétique’.
(Vcl phỏng dịch nguyên bản Pháp ngữ)

 



Những Áng Văn Đầu Đời và Kiệt Tác Để Đời

 

Măi cuối năm 1820; Hugo nhận ra hai điều khác biệt giữa thơ và văn đối với người viết. Trong cái say mê cuồng nhiệt nhất là tiểu thuyết của Hugo đă diễn tả một cái ǵ tàn ác, đẫm máu và phản kháng. Ở ‘Hàn người Băng Đảo/Han d’Islande’ và Bug-Jargal’ ám chỉ nói lên cái ǵ mời mọc, một ư thức về chính trị một thứ chính trị cưỡng bức dành cho Cộng Ḥa tương lai, một sự lơ đăng có dụng ư cho một nơi xa tầm nh́n. Điều chắc chắn những tác phẩm mà Hugo thực hiện là trọn vẹn và đầy đủ, mà lâu nay đă nhốt kín bởi một đ̣i hỏi cho sự chịu đựng nghiêm trọng đều nằm trong thơ văn trữ t́nh của Hugo.


Một dự mưu lăng nhách trong tác phẩm ‘Hàn Băng Đảo hay c̣n gọi là Giống Quỉ/Han of Iceland or The Demon Dwarf ‘ (1821) được xây dựng trong lịch sử Na-Uy(Norway) vào thế kỷ thứ mười bảy; ở đây phát hiện ra tính hiếu kỳ của Hugo cho một lối khiêu khích châm biếm và cũng tự châm biếm ḿnh. Đưa ra những nhân vật tên tuổi như thể nói lên mặt trái xă hội, nơi họ dung thân để thực hiện những ư đồ vô tưởng một bài trí có tính cách chống đối hoàng triều. Một dấu hiệu ẩn tàng tư duy của Hugo, bởi; thân sinh ông vốn đă thừa hưởng ‘ơn mưa móc’ của Hoàng đế Napoléon I. Ở tác phẩm đầu đời Hugo đă chứng minh được ḷng trong trắng của ḿnh qua hành động cũng như tinh thần đối xử với nhà vua một hành trạng qua từng nhân vật như đại diện cho chính ḿnh: t́nh yêu và đấu tranh được t́m thấy qua những người và vật hiện thân trong cái lốt quỉ sứ và như một đối đầu với thực trạng xă hội thời ấy (Ordener finds the dwarfish monster and confronts him…)

 

Một chủ đề nói lên sự mất mát cảm t́nh của những gia đ́nh, những đứa trẻ sống bất hợp pháp và những người con bức tức không c̣n tự nhiên trước mặt cha mẹ, tất cả đă phản ảnh một xă hội chính trị rối loạn của một đ̣i hỏi cách mạng hóa cho kỷ nguyên nầy. Trong lần tái bản thứ hai về Han d’Islande, Hugo bày tỏ ngay thật là không một dụng ư hay điều động một cuộc Cách mạng :’Quan tâm đến một xă hội trong sáng để thế chỗ cho những tàng tích bởi điều đó chất chứa sâu xa một cách mù quáng man rợ; ấy là điều không thể thừa nhận để đi tới cái chết. Thật ra th́ đó là một phản kháng ṃ mẫm [một tranh biện chống đối chính trị bè phái] vội vă đó đưa đến tranh giựt của con người và tàn suy cho cả một đội quân sẽ xẩy ra sau đó’ –Enlightened social concern was superseded by that profound bestial blindness that cannot recognize approaching death. Indeed, the rebellion of the limbs [ the strife of opposing political factions] quickly leads to the rending of the body,and the decay of the corpse ensues. Hàn Băng Đảo/Han d’Islande chỉ xuất hiện như nhân vật phạm tội để rồi buộc vào cái thế bung phá là một thứ văn chương đương đại vào thời đó. Han d’Islande là một tác phẩm thành công của Victor Hugo khởi từ năm 1825 và sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng ở thế kỷ thứ mười chín.
 

Trong bước đầu văn nghiệp Hugo thừa nhận rằng chủ nghĩa lăng mạn có hai phuơng thức xử dụng. Không giống những ǵ là chính yếu trong trào lưu văn chương của thế kỷ thứ mười tám, ông giải thích:’Cả hai được hiểu là có cái ǵ châm biếm, ngạo nghễ về vấn đề giải thoát mà triết học có lần đă từ chối về: cái bất tận của Thượng đế, một linh hồn bất diệt, một chân lư cơ bản và một bộc lộ sự thật’. Both acknowledge what a mocking (enlightenment) philosophy had denied: God’s eternity, the immortal soul, fundamental verities and revealed truths. Nhưng chủ nghĩa lăng mạn đầu tiên theo Chateaubriand phải hiểu rằng sự thật ở đây là nằm trong qui định của tôn giáo, nghĩa là thờ phượng đấng tuyệt đối với Byron qui định đó chỉ là lời nguyền rủa chớ chẳng phải ǵ hơn.


Trong cuốn tiểu thuyết thứ hai, Hugo viết lên ở đây như một lời tường thuật, một lối tiểu thuyết diễn dịch hơn là mô tả trong cuốn Bug-Jargal. Ở lần xuất bản đầu tiên 1820 nhưng tới 1826 lối truyện tường thuật, diễn dịch đó quá sức khuếch trương và sau đó được cải thiện hoàn toàn vào năm 1826 là một tư duy thông thường và gần như hoàn tất cho hai tác phẩm đầu đời đă nêu.


Tiểu thuyết của Hugo thường ghi lại kịch tính thuộc chính trị (the political drama) nghĩa là xuất hiện cuốn Notre-Dame de Paris (1842) là một tựa đề quá đầy đủ nói lên được nội dung bên trong câu chuyện: một h́nh ảnh sống măi với thời gian, một đụng chạm bất ổn đối với lịch sử (mà lịch sử đôi khi phải giấu kín sự thật) Cái chói chang vô tận đó và cái thay đổi nổi bật đó là cả một kết hợp hấp dẫn giữa nhân tính và giáo điều, giữa dân và quan chức, đột phá qua mỗi tư duy làm người là lối tiến hóa trong cái ǵ có tương quan chính trị và tôn giáo, hai lănh vực quan trọng, mà thời nào cũng có dính dấp vào nhau như lên án quanh dữ kiện 1831, Hugo đă nh́n thấy thực trạng dù bất cứ khi nào hay nơi nào. Một tiểu thuyết mang nặng tinh thần chính trị của giữa yêu và ghét; tuy nhiên vẫn ḥa hợp về sau Và; ghi nhận một thời gian hào phóng (1830-1832). Cuốn Les Misérables(1862) là một lối đối xử về chiến thắng quân sự của nền Cộng Ḥa, một chủ nghĩa lư tưởng được khơi mào bằng một cuộc tổng khởi nghĩa mồng 6 tháng 6 năm 1832. Trong hai tác phẩm vĩ đại nầy đă đưa Hugo vào bất tử qua mọi thời đại, một kỷ nguyên được mở ra để nhận biết đâu là chân lư, đâu là sự thật của con người; tuy đă trải qua nhưng vẫn c̣n hiện thực.


Hugo một trí tưởng siêu lư (Hugo’s transcendent vision) ông cố tránh những ǵ rùng rợn dù là giản đơn trong một thị giác của ông, bởi; ở đây ông không để xen lẫn vào cái thẩm quyền của người giám mục trong truyện của ông, một sự khống chế lạm quyền vào vai tṛ của người viết văn hoặc một sự tiên đoán có thể là lănh hội một cách đầy đủ cho mọi dữ kiện. Hoàn toàn không có dự tưởng, tiên đoán và cũng không có chuyện của một con người lăo luyện khôn ngoan (wise-old-man) trong tác phẩm Notre-Dame de Paris mà thực ra đề cao quyền cao chức trọng của những v́ vua được xem là quyền tối thượng như Thượng đế và rồi điều đó đưa tới vô hiệu hóa, một dục vọng ham muốn với một gái nhảy (Gypsy) La Esmeralda. Cái bơ vơ, không ai giúp đở lôi cuốn vào một xă hội bỏ rơi, lăng nhục đă khơi động trong tim Hugo. Vua không thể thấy những ǵ xẩy ra trong bốn bức tường của ‘pháo đài’ Bastille. Hugo đă chứng thực một viễn ảnh ở đây như nối tiếp và sau cùng chỉ c̣n thừa nhận God/Dieu. Một tinh thần cơ bản ư thức có thể có một cuộc đời mới cho chúng ta mà thôi. Ở đây Hugo không cố sức mô tả: mà chỉ là nói lên cá tính con người có thể là cảm nhận bén nhạy nhưng không tóm gọn một sự thật cao vọng nào hơn. H́nh ảnh phi thường thấy được trong Hugo là có hai chiều: ấn tượng xúc cảm và một ư thức biến đổi đều qua lăng kính của thị giác. Trong khi đó vai tṛ vũ nữ La Esmeralda là một nhất thể là chủ động, là rạch mở của tiểu thuyết, c̣n Quasimodo là một hợp thể trong luận đề của tiểu thuyết. Một ư nghĩa đầy đủ của Hugo, bao bọc bởi tinh thần và thẩm mỹ là một ưu điểm dành cho một góc độ của bi kịch đời; điều đó chắc chắn là đảm bảo và dính liền với nhau trong tác phẩm của ông. Hugo thường khi đi tới đỉnh cao, một cái ǵ trong sáng vĩ đại là trong tinh thần đánh thức, hướng về của tiếng chuông đổ, âm thanh đó nổi lên từ trời cho một tập quán cầu nguyện của tín đồ. Không có Quasimodo ngày nay. Hugo nói: ‘Nhà thờ Đức Bà gần như chưa hoàn toàn và không có sự sống tợ như cái sọ khô’(Notre Dame seems incomplete and lifeless as an empty skull.(3.3.177 NdP). Một kết thúc là một tái hợp lần nữa trong khi sườn bài của Quasimodo là được t́m thấy sự vượt thoát, mắc phải với La Esmeralda. Rơ ràng, Quasimodo chết ṃn trong đôi tay của người vũ nữ, một tử thi đáng thương. Thằng Gù rơi dần vào cát bụi (his fall into dust). Nói một cách khác Quasimodo đă lià xa thế giới này, tuyệt vọng bởi cái méo mó, xấu xí. Trong cái ngữ ngôn thẩm tích của tội lỗi và dâng hiến, có một cái ǵ kỳ cục bao phủ tất cả, một cái ǵ thiêng liêng ‘concordia discors’ và một cái ǵ khắc khẩu, nghịch lư không thể ḥa hợp được. Quasimodo nhận sự đau đớn ấy. Cụ thể; sự cứu rỗi đó có cả chúng ta trong đó.


Với Les Misérables; tác phẩm nầy Hugo bắt đầu ngay trong thời gian Cách mạng bùng nỗ vào năm 1848. Hugo nh́n cuộc đời trong và ngoài cách mạng, ông đă mặc tư, không vội vă, bồn chồn trước một giao tranh ư thức hệ, sau đó ông quyết tâm đặc ngọn bút vào tác phẩm cho ‘Những Kẻ Khốn Cùng’. Bày tỏ một tâm tư tự đáy ḷng, ông tin vào sự thành quả của ḿnh là một sáng tác đương đại có thể làm phai nhạt những tàn tích cổ lỗ. Hugo tin ở Les Misérables có một cái nh́n trung thực cho một hoàn cảnh xă hội, nơi đă chứa chấp những cuồng si, đe dọa, đàn áp và tù đày…một tác phẩm không đặc sai chỗ. Tạo nên một tri nhận vô danh trong lịch sử văn chương Pháp quốc. Khởi từ đó cho tới về sau Les Misérables trở thành một tác phẩm vĩ đại, đắc giá cả phẩm và lượng và rồi được dàn dựng trên sân khấu kịch nghệ ở khắp mọi nơi và thực hiện nhiều lần qua phim ảnh. Ngần ấy cũng đủ thấy giá trị tuyệt đối của nó. Vậy th́ Les Misérables có những ǵ ẩn chứa bên trong tác phẩm? Bởi; nó không thông thường như những tiểu thuyết khác mà được gọi là tiểu thuyết hiện thực (a realistic novel). Nói lên cả cuộc đời rộng lớn vây quanh của con người. Một thể thức tột bực của chủ nghĩa hiện thực; ngoài ra ghi lại một thời kỳ nhiễu nhương, phức tạp qua từng giai cấp trong xă hội, một tiểu thuyết lịch sử hơn là một cuốn tiểu thuyết t́nh cảm xă hội. Đó là tác phẩm khác biệt của Hugo. Chắc chắn một điều đây là một tiểu thuyết xuất sắc và t́nh tiết đă được nhiều nhà phê b́nh văn học nhận xét là một trong ba tác phẩm vĩ đại mà Victor Hugo đă viết lên. Les Misérables trước đă có tên Les Misères/The Mercy/Đoái Thương và dần dà theo thói quen mà thông thường hóa cho tới bây giờ. Les Misérables một tác phẩm mà Hugo đă bỏ công sức và trí tuệ vào đó ṛng ră gần hai mươi năm. Misères được chỉnh sửa nhiều lần trong ṿng hơn ba năm. Khởi từ 1845 đến 1862 th́ Les Misérables mới hoàn tất.Nhưng theo ư Hugo cuốn misérables không có nghĩa là thương xót, tội nghiệp (the poor) và bất hạnh mà ở đây nói lên những kẻ vô gia cư, vô thừa nhận, kẻ hạ lưu bị chà đạp (underdogs) họ đứng lên phản đối xă hội và chống trả xă hội bằng một cuộc cách mạng từ những kẻ khốn cùng. Ở đây chúng ta cũng không quên vai tṛ nhân vật trong truyện - Jean Valjean, the Thénardiers, Fantine, Javert và tất cả những nhân vật phụ kể cả những đứa đứng đường (street-urchin) như Gavroche; với tất cả nhân vật sống thực trong truyện là có một chân dung tuổi trẻ của Hugo rải rác trong đó. Nhưng phải biết cho rằng truyện của Hugo là một chứng thực có thật là một cái ǵ gắn liền với thời chiến , một dàn trải khác trong thi ca của Hugo. H́nh ảnh hiện thực, sống động là một gợi h́nh và là một vấn đề khác (như là ẩn dụ metaphorical) v́ rằng; trong Les Misérables có một thẩm quan sâu xa là đặc trong vị trí xử thế nghĩa là phản ảnh hoàn toàn sự thật; sự thật phô diễn trạng thái thầm kín của viên chức điều tra đă thầm yêu cô gái điếm vô gia cư, vai tṛ nói lên hai giai cấp xă hội rơ rệt của yêu và ghét. Một chất liệu vừa tượng trưng vừa tượng h́nh để đưa tới một số trữ t́nh trong thơ, văn; vận chuyển đến thương mong –its moments of lyrical quality and of moving compassion. Một tập truyện dài như tháp ngà, cấu trúc dưới dạng kỳ quan của nhân loại, một tác phẩm vĩ đại của văn học Tây phương, một bi kịch đời xẩy ra thường khi trong mọi thế kỷ của loài người và cũng được coi là nền luân lư, đạo đức và một tài liệu dành cho mặt thực xă hội, ôm đầm cả một lănh vực rộng lớn hơn những tiểu thuyết khác, ngay cả tác phẩm ‘Chiến Tranh và Ḥa B́nh’ của L. Tolstoi. Les Misérables gần như chứng tích lịch sử hơn là mặt thực xă hội.


Trong tác phẩm nầy những nhân vật trong truyện là một liên kết, gia nhập vào nhau trong cùng một hoàn cảnh, một trạng huống tâm tư; họ là những đại diện cho loại người ưu tú có ḷng vị tha và chấp nhận, Hugo đưa họ vào một dải hành tinh bất tận. Victor Hugo đưa nhân vật đại điện tôn giáo Tổng giám mục điạ phận Myriel là vai tṛ của niềm tin kiên cố: con người sinh ra vốn tốt-nhân chi sơ tánh bổn thiện- Kẻ Khốn Cùng chưa hẳn là hoàn toàn xấu xa mà xă hội vốn đă loại trừ. Hugo đào sâu qua từng nhân vật để thấy được tấm ḷng sắc son của họ. Nhân vật chính qua h́nh ảnh của Valjean được coi như giả thuyết: được đời nh́n như kẻ phạm tội, một kẻ có tội ác, nhưng nó lại là người đạt được trách nhiệm hy sinh, chịu cực h́nh thế cho kẻ khác. Và; viên cảnh sát điều tra Javert luôn luôn gần gũi với dân, bao che cho dân, phục vụ cho dân nhưng thật ra là dă tâm; ấy là điều Hugo tuyệt vọng. Hugo đưa văn chương dự phần như nói lên con người cần có một sáng tỏ trong tư duy, yếu tố cần thiết của con người là v́ t́nh thương mà bao che cái phải cái trái trong chức năng, nhiệm vụ chớ không thể cứng nhắc để buộc tội như kẻ cầm quyền.

Tóm lại; qua thơ, văn của Victor Hugo đă cho chúng ta một cái nh́n sáng tỏ, Hugo đă dựa trên những chứng thực của con người để làm nền tảng cho chính cuộc đời của Hugo. Truyện thường lên án hệ thống xă hội, đối xử bất công với kẻ thiệt tḥi, điều đó đem lại những tác phẩm của Hugo trở nên thần tượng, một huyền thoại nói lên ‘Kỷ nghệ Cách mạng/Industrial Revolution’ và cái tương quan giữa con người và Thượng đế. Đó là chân dung trọn vẹn của thế kỷ mà Victor Hugo đă sống và ông sống măi cho tới ngày nay./.


VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab. tháng 4/2013)

 


* Victor Hugo: 1802-1885. Nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch, nhà biện luận và khám phá mới chủ nghĩa lăng mạn Pháp.. Làm thơ từ tuổi 10-15. Tác phẩm thơ: Phương Đông/Les Orientales (1829). Tiểu thuyết đáng kể nhất: Notre-Dame de Paris (1831) và Les Misérables (1862). Kịch :Hecnani (1830).Vua Ăn chơi/Le Roi s’amuse (1832) Thơ nổi tiếng :’Trừng Phạt/Les Châtiments (1853) Trầm Mặc/Les Contemplations(1856) Ngoài ra c̣n vô số tác phẩm thơ, văn giá trị khác để lại cho thế gian khắp năm châu.

SÁCH ĐỌC : Victor Hugo by Laurence M. Porter. Twayne Publishers . New York .NY USA 1999.

PHIM ẢNH /MOTION PICTURE: -Les Misérables:(1995/French). (1998’England&USA) và (2012/USA).
-Notre-Dame de Paris/The Hunchback of Notree Dame (1957/French) Gina Lollobrigida/Anthony Quinn.



    

 

 

trang vơ công liêm

art2all.net