vơ công liêm

 

 

YẾU TÍNH Của THI CA TÂN H̀NH THỨC

 

Vơ Công Liêm - Chân dung TTKM
 

Thượng đế đă sinh ra rất nhiều nhà thơ nhưng lại rất ít thơ’ (Charles Bukowski).

Trong mọi trựng phái thi ca đều có cái chất riêng của nó; nói theo phạm trù hội họa gọi đó là ‘matière’, là thực chất, chất liệu để thành thơ; một sáng tạo khéo léo (creative/skill) và đó cũng được coi là bề mặt của thơ; có khi tiềm ẩn trong dạng hoang đường (mythic metaphor) khó hiểu nhưng tăng thêm phần linh động cho thơ.

 

Trong thơ dù bất luận mọi thể loại hay trường phái nào đều đ̣i hỏi một dạng thức bí truyền với một tiết tấu lạ lùng từ con chữ đến cách hành văn thời mới ‘nên thơ’. Ở đây chúng ta không đặt nặng vấn đề làm thơ mà t́m thấy nơi thơ có những sắc tố khác biệt, bởi; thơ là như-nhiên, là cơi-phi nó có từ tâm thức siêu lư phát sinh qua ngữ ngôn để thành thi tứ của thơ. Một lối thơ đặc trưng mang nhiều sắc thái khác nhau, tuôn chảy không dứt hoặc có khi dừng lạị để tiếp nối theo ḍng luân chuyển như cách đọc không ngừng ở cuối ḍng. Đó là yếu tính của thi ca tân h́nh thức –The Elements of New formalist Poetry. Bởi; như thế này: thi ca là cuộc chơi / the poetry game hay cho đó là tṛ chơi thi ca hay ‘thả thơ’ mà xưa nay đă có lần trải nghiệm. Nếu bạn hỏi một nhà thơ: ‘có cái ǵ hay trong đó? Nhân gian có ǵ lạ hơn không? Đó là câu hỏi mà nhiều người yêu thơ sẽ trả lời: ‘tôi! tôi chả mấy thích’ hoặc nhà thơ Tây phương W.H. Auden nói: ‘thi ca chẳng làm nên sự thể / poetry makes nothing happen’. Cái đó nó thuộc về tâm lư nội tại, một sự chối bỏ của cái gọi là ‘bất khả thi’; yếu tính đó chính là chân lư như nhiên, nó thuộc vũ trụ của tâm hồn được khám phá nhờ cái nh́n vào cơi ngoài mà bắt gặp cái nh́n của ngoại giới, cũng từ chỗ đó mà thơ lần vào con đường siêu h́nh một cách tự nhiên, hài ḥa giữa những lúc mưa nắng bất thường và chính trong sự bất thường đó là hạt lệ của thi ca tân h́nh thức. Chính v́ vậy mà ngôn ngữ thi ca tân h́nh thức là một hiện hữu ở chính ḿnh, bởi; trong thâm cung của mỗi con chữ tôi chứng kiến sự sinh ra tôi /Au fond de chaque mot j’assiste à ma naissance; đó là một tiếp giáp tương quan của sáng tạo, của ngôn từ. Thi ca tân h́nh thức không cần đến sự vật ngoại giới mà cần sự vật nội giới làm h́nh ảnh tiếp thu để trở thành ngữ-thơ trong ngôn từ; đó là lối chơi dũng cảm, tuồng như nửa đùa nửa thật của tṛ chơi chữ /game of words /jeu de mots. Nhưng; trong cuộc chơi thơ là một khám phá không ngừng mà thi ca tân h́nh thức là một biểu hiện: biểu dương ngữ ngôn là đối tượng giữa bản thể và tha thể. Biểu dương h́nh ảnh là cái nh́n trừu tượng của tâm thức. Biểu dương tâm trạng là ư thức thức tỉnh trực tiếp của bơ vơ, của bi thảm, của phân ly, của dày xéo. Cho nên chi thi ca tân h́nh thức không c̣n là ‘h́nh thức’ của cái vỏ bề ngoài mà h́nh thức chứa đựng một nội tâm bị phủ quyết; họ bung lên để t́m thấy mặt trời ở chính ḿnh và ở chính người là một xác quyết đầy chất sáng tạo mới.


Những thi sĩ hiện đại cũng như những nhà thơ tân h́nh thức là không muốn mang sang hay tỏ bày cho cái việc ‘tŕnh diễn’ thơ. Họ làm thơ trong một khả năng không giới hạn, ăn ngay nói thiệt, họ đi từ nồi niêu để thấy trong nồi niêu là đồng thau, là vàng son rút từ cái không vần điệu của thơ không vần (blank verse) để biến ḿnh vào một thể thức mới hơn (new formalist); nó gần giống như truyện không có câu chuyện. Đúng ra chúng ta không đứng ở vị trí khách quan mà thẩm định tấm ḷng chung thủy thi ca của thi sĩ mà đụng chạm về quan điểm của họ. Thi ca là cơ bản cho một cuộc chơi, là luật thường t́nh của ngón nghề ăn ngay nói thiệt được bày tỏ trong hai phương diện của: người viết và người đọc đó là cách chơi. Nếu người đọc chưa đả thông trọn vẹn hay cà giựt th́ cuộc chơi sẻ không thực hiện được –Poetry is essentially a game, with artificial rules and it take two: a writer and reader to play it. If the reader is reluctant, the game will not work. Quả vậy! trong thơ tân h́nh thức có thể giúp cho ta tạo ra tiếng nói con người để cùng nhau đi tới tiếng nói trí tuệ là một phản ảnh thực tế giữa người làm thơ và người đọc thơ. Thơ tân h́nh thức ‘luân phiên tụng niệm’ là kiểu cách người chơi thơ. Một lối canh tân mới của thi ca tân h́nh thức. Họ thao tác trong việc dựng thơ là đổi mới tư duy trong trường phái của tân h́nh thức.

Chúng ta cũng biết rằng thơ tân h́nh thức là một trào lưu văn chương có từ cuối tk. thứ hai mươi và đầu tk. thứ hai mươi mốt, một trường phái mới và bốc lửa. Trong đó đáng kể thi ca Mỹ châu, đặc biệt ở Hoa kỳ đă được thăng tiến như một sự trở về âm luật của thơ (metrical) và cước vận của thơ (rhymed verse). Tranh luận giữa hai trào lưu thi ca vẫn c̣n tiếp tục trong thời sự của văn chương, tuy nhiên; dạng thơ tân h́nh thức c̣n duy tŕ và tung hoành trên mạng báo nhiều hơn ở lúc này. Nhớ cho; năm 2006 thi ca tân h́nh thức đă trở nên ‘phủ sóng’ một cách vững chắc trong luật tắc của văn chương đương đại Mỹ. Ngược lại; người ta coi thơ tân h́nh thức gần như thứ tản văn, một thứ văn xuôi tầm thường (prosaic); v́ thế mà đưa tới cái nh́n nhỏ nhặt và ấn vào đó một cách sâu đậm về mặt t́nh cảm của con người qua thi ca tân h́nh thức và nh́n nó như thứ không hợp thời trang. Cuối cùng đưa tới phê phán một cách thậm tệ; một lối thơ có cung cách trưởng giả pha chất phong kiến (bourgeois)… Thế nhưng; trào lưu thi ca tân h́nh thức lại được bộc phát một cách mănh liệt kể từ 1960 đến 1978 như một trào lưu thi ca đương đại.


Thơ tân h́nh thức không có chi là trưởng giả hay coi thường các thể thơ khác hay đặt ḿnh trong vị trí cố hữu của người chơi thơ, trái lại; nó đă đánh thức trong ta cho một trả lời củng cố về nhịp điệu của vần thơ, dù cho ngắt ḍng hay vắt ḍng hay lập lại là thể thức dụng văn của thi ca tân h́nh thức. Nhưng; nếu nh́n một cách độ lượng thi ca tân h́nh thức c̣n có chức năng khác bằng một kết hợp đặc biệt của những ǵ thuộc âm nhạc, một thi ngữ có vần điệu. Thí dụ: Nhạc của Trịnh Công Sơn hầu hết xử dụng nhạc từ theo dạng tân h́nh thức, bỏ lửng, vắt ḍng đưa tới những nhạc từ rất lạ đời; nếu như nghe kỹ th́ điệu nhạc nghe mới hơn và tạo nét đặc thù cho nhạc mà ngay cả thơ là ở chỗ đó. B́nh thơ và nhạc không thể dẫn chứng hay ‘phanh phui’ để nói cái hay mà phải nhận biết yếu tính của thơ, nhất là thơ tân h́nh thức nó có một sự hổn hợp đặc biệt của những ǵ thuộc âm nhạc và phẩm lượng của ngữ ngôn –It is a special combination of musical and linguistic qualities. Chúng ta bỏ mất nhịp điệu (rhythm) trong thơ chẳng khác nào ta bỏ mất thanh điệu (nhạc) hay giọng điệu (thơ) khi bàn về thơ và âm nhạc. Người ta thường phổ thơ để thành nhạc ít khi nghe phổ thơ THT để thành nhạc, ngoại trừ nhạc sĩ Trịnh Công Sơn hay Ngô Thụy Miên, họ đă tŕnh diễn con chữ trong nhạc có ‘điệu’ của tân h́nh thức. Nghe lạ tai và mới lạ trong suy tư. Thơ hay nhạc là những khoảnh khắc thức tỉnh của đời sống con người. Ngôn ngữ là phương tiện cho thơ chớ thơ không phải là phương tiện của ngữ ngôn. Nhạc thơ cũng thế và chỉ có một không hai là thi nhạc sĩ Bob Dylan (Mỹ) mà thôi. Dylan hát như đọc thơ là điều hiếm có ở cơi đời này.


‘Những nhà thơ tân h́nh thức mở rộng và chấp nhận mọi khuynh hướng từ quá khứ tới hiện đại, phá vỡ những biên giới giữa nhiều bộ môn nghệ thuật khác nhau, giữa hội họa, âm nhạc và văn chương, giữa h́nh thức nghệ thuật nầy với bât cứ h́nh thức nghệ thuật nào khác. Tân h́nh thức c̣n chấp nhận mọi khám phá của những phong trào tiên phong khác, từ thế hệ Beat, trường phái New York đến những thi pháp của Olsm, Creeley theo quan điểm ‘nothing is true everything is permitted’(Trong Tân H́nh Thức của Khế Iêm –Văn Mới 2000). Nói chung thơ là một hỗn hợp bởi ba nghệ thuật: âm nhạc, truyện kể và hội họa qua màu sắc của con chữ. Trong thơ tân h́nh thức ta bắt gặp thường xuyên ngữ điệu như thế. Thi ca Tân h́nh thức là một áp đặt con chữ để đi tới thích ứng của thơ, đi tới một điều kiện hiện hữu trong những ǵ mà chúng ta t́m thấy ở chính chúng ta, nó giúp cho chúng ta diễn đạt của đọc thơ qua trạng thái của tâm thức –it helps us articulate our states of mind. Trần Dần có một bài thơ và nhiều bài thơ khác diễn cảm bằng một thứ t́nh cảm éo le, chan chứa. Đọc xem để thấy thơ tiền chiến và hậu tiền chiến đă dẫm chân lên môi trường của tân h́nh thức:

‘Bước lặng
Tôi về cơi lặng?
một trời
tôi vẫn lạc quan đen
tôi bước lặng bên tôi
không một ai – mà vẫn bước
đều
cho đến lúc say nâu
tôi rẽ vào phố lặng

(Trong bài thơ tựa đề Nhân Sinh của Trần Dần NXB Đà Nẵng 2007)


Một bài thơ khác của Trần Dần qua cách thức vắt ḍng nhưng vẫn liên kết trong ngữ điệu của thơ tân h́nh thức:


‘tôi khóc thu không – nhưng thu
không không khóc
cũng không cười?
không trống?
chỉ là lằng lặng thu không’

(Trong bài Uẩn khúc Ga cuối)

Thời kỳ hậu một chín bảy lăm là con đường ngược chiều giữa tiền chiến và thế hệ tiếp nối, phủ nhận toàn bộ lối thơ xưa cũ, ước lệ của lục bát, thơ 7, 8 chữ hoặc thơ xuôi, thơ không vần ngay cả ca dao dùng ngữ điệu thông thường, bởi; những thể thơ như thế dựa vào ngữ điệu hay vần điệu để thành lời thơ, ngược lại thơ tân h́nh thức dựa vào thể âm luật (metrical) với kỹ thuật vắt ḍng (enjambment); vắt ḍng bất cứ nơi nào trong câu thơ và đôi khi tiếp tục như thế cho tới cuối ḍng… Thế nhưng có những luật tắc tương tợ lẫn nhau: ‘Tân h́nh thức và Tự do gần giống nhau, gần với cách nói thông thường, c̣n tạo được nhịp điệu…’ (Khế Iêm. Trong tập Tân H́nh Thức. 2000 USA). Nói vậy Chầu văn hay Hầu văn, ḥ Giă gạo, Đồng bóng là nhạc cổ điển Huế cũng đă xử dụng nhịp điệu của h́nh thức tân h́nh thức mà vẫn lôi cuốn người nghe qua những câu ḥ vấn đáp suông să và nhịp nhàng mà giờ đây đă phục sinh. Nếu xếp những thứ đó để trở thành văn xuôi thời nó trở nên văn kể chuyện hoặc cho đó là thơ không vần có phần nhẹ nhàng hơn cả văn xuôi một cách trung thực bởi không bận tới yếu tố thị giác.


Hậu 75 phát sinh những ḍng thơ mới hơn cả thơ mới, nó mang mang chất tân h́nh thức; bởi nó không ngừng lại theo ước lệ của thơ; v́ thế mà làm cho thơ không thoát theo trí tưởng mà làm mất ‘duyên thơ’:

‘Mưa bay lất phất gió căm căm
Đường lầy trơn nhà cửa tối tăm
Trốn đâu lũ trẻ mặt lem luốc
Co ro đứng coi tù qua thôn

vác bó cuốc bước loạng choạng
về trong xây xẩm buổi tàn đông
lạnh lẽo nhà ai không đèn lửa
ảm đạm ḷng ta chiều cuối năm’

(Thanh Tâm Tuyền. Trại Vĩnh Phú Đông 1976)

Có những câu thơ xen lẫn nhau là một sự kết hợp giữa 5 chữ (ngũ ngôn) sáu, bảy chữ (lục, thất ngôn) là luật tắc của Trung Hoa mà chúng ta thường bắt gặp trong thơ dân gian của Việt Nam như trong Ca Huế của thơ Tứ Đại Cảnh, Nam Ai, Nam Bằng…) Với âm sắc đó với chất thơ lắp đặt (poetry installation) phảng phất chất thơ tŕnh diễn (the poetry art-performance) hơn cả thơ có vần điệu. Đọc bài thơ này:

‘Đêm đă nhuốm màu lên làn da em
Lên đôi mắt ṿng ṿng một quầng đêm

Đêm đă nhuốm màu lên đôi bàn tay em
Để em không thể nh́n thấy anh
Bằng xúc giác

Đêm đă nhuốm màu lên lưỡi của em
Để em không thể nh́n thấy anh
Bằng vị giác

Dêm đă tràn vào từng sợi thủy tinh của chiếc đèn vàng
Và khe khẻ hát
Để em không thể nh́n thấy anh
Bằng thính giác’

(Đêm và Anh của Ly Hoàng Ly Hà Nội 2006).

Đấy là những ǵ mà nhà thơ khéo xử lư (tact) để cho ḍng thơ trở nên nhịp nhàng cân đối, câu này liên kết câu kia dẫu có vắt ḍng hay ngắt ḍng vẫn duy tŕ đường nét phá thể của h́nh thức mới. Nhận thức được điều này thời đó là tính đa dạng của thi ca –acknowledges the diversity of poetry. Khéo xử con chữ cũng như vận thơ th́ đạt tới cái đích của thơ, phải thấu đáo cho thơ có ‘hồn’ nhiên th́ thơ mới có trọng lượng. Đó là chỉ tiêu làm thơ. Tân h́nh thức đ̣i hỏi xử thế con chữ trong mọi cách hành văn thơ là việc cần chú ư cho thơ tân h́nh thức, nếu không biết vận dụng ngữ ngôn thi ca một cách trong suốt th́ thơ tân h́nh thức bị nghẽn một cách vô lư, vô vị so ra không đúng đường lối thơ vô nghĩa (nonsense-poetry) mà tuột hậu giữa con đường cái quan của tân h́nh thức. Nói ra nghe dễ cho việc làm thơ, nhưng; không phải dễ như một số đông đă làm thơ. Họ chú trọng làm thơ theo khuynh hướng của thị hiếu; thấy dễ ‘chơi’ cho nên chơi thử mà thành thiệt. Làm thơ trở thành thói quen như hút thuốc lá hoặc có khi phỏng theo hay cốp-pi (imitation) để cho ra thơ rồi từ đó biến ḿnh thành thi sĩ.

 

Thơ tân h́nh thức là một vận dụng trí tuệ, vận chuyển con chữ để kết ḍng là sở đắc của người làn thơ theo thể thức mới. Nói đúng ra; ai làm thơ cũng được cả, nó hao hao với nhau có ǵ khác mà phân tích, chẳng qua bày vẻ cho thêm chuyện và dựa vào đó để b́nh thơ chớ không t́m thấy yếu tính của thi ca. Cho nên chi hằng triệu bài văn b́nh giải thơ, từ xưa đến nay tợ như ḥ mái nh́, đả đớt như mem cơm. Văn và thơ song hành kiểu đó th́ có khác chi ‘mùa thu lá bay’. Cứ đem ba cái chuyện đời xưa ra b́nh giải th́ hóa ra nó trở về cái ‘nonsense’ mà không thấy ḿnh đang rơi vào hố thẳm của văn chương. Hăy sáng tạo là yêu cầu mật thiết cho người làm thơ; sở dĩ như thế v́ tương quan sáng tạo là tương quan của ngôn từ. Cái sâu thẳm của thơ tân h́nh thức là con chữ gần như tiếp giáp với cuộc đời, lời thơ phát ra với một tâm như nhiên, một tiếp cận giữa người và thơ. Henri Bosco nói: ‘J’ai mes allumettes: les mots’ Đó là định đề cố hữu của người làm thơ; nói chung, với thơ tân h́nh thức lấy ngôn từ để soi sáng nội tâm mỗi khi nhận ra vũ trụ ngoại giới là thấy ḿnh hiện hữu với tâm trạng của ḿnh. Cái sự đó nó nằm trong bối cảnh của tân h́nh thức. Thơ của tân h́nh thức là đi vào trong kịch tính (drama) và trong sự diễn giải (narration) là vai tṛ chủ thể đối diện với tha thể trong một liên tŕnh tiếp diễn của trạng huống tâm lư hay cảnh quan vật lư. Như vậy chúng ta đă đạt tới yếu tính trong thi ca bằng một cố gắng làm nên thơ. Sự đó là nồng cốt miêu tả của thi tứ, sự đó nó đến với chúng ta như nhận lấy sự cảm thấy và thói tính của thi nhân –It is of the essence of poetic description that it come to us charged with the poet’s feelings and attitudes. Nhưng; đôi khi trong thơ lại ẩn tàng (implicit) đôi khi lại bộc bạch (explicit) bằng lời thơ tự thuật hay tự phê về ḿnh. Sở trường của thơ tân h́nh thức là vắt ḍng hay chuộng vần điệu, nhưng; lại sở đoản trong phong cách tŕnh diễn, bởi vấn đề của chất giọng (tone) hay nhịp điệu (rhythm) và ẩn dụ (metaphor). Chú ư vào bốn câu thơ mở đầu trong tập Tân H́nh Thức của tác giả Khế Iêm. Thái độ hoặc cảm xúc ǵ đă truyền đạt qua lời thơ và làm thế nào để nhận ra sự vận chuyển đó. Bài thơ được chia ra 5 đoản khúc. Dẫn ở đây 3 đoản khúc:

Khi tôi ngồi uống cà phê ngoài lề
đường và kể lại câu chuyện đă được
kể lại từ nhiều đời mà đời nào
cũng giống đời nào, mà lời nào cũng

giống lời nào, về người đàn bà và
đàn con nheo nhóc (nơi góc phố được
gọi là chỗ chết, nơi góc phố được
gọi là chỗ sống), kẻ những đường kẻ

bằng than đen, găy góc, xấu xí như
cái bóng trong tấm h́nh cũ, như dĩ
nhiên hôm nay ngày mai ngày mốt, như
thế thôi th́ thế thôi, biết đâu chừng



(Hai khúc sau lập lại của hai khúc đầu)
(Tân H́nh Thức Và Câu Chuyện Kể của Khế Iêm)

Sang bằng bài thơ th́ đó là chuyện kể, chuyện kể bằng thơ. Thơ tân h́nh thức giản dị như cơm với cá như mạ với con. Chúng ta đọc để ‘nghe’ chớ chẳng phải b́nh luận, V́; nó là thơ tân h́nh thức. Là tinh thể của tâm hồn theo thể thức mới; nó phản chiếu vào đó những nghi vấn cuộc đời để thành thơ. Nó đang cần một sự giải thoát. Nói chung nó là thứ thuộc ngữ ngôn siêu h́nh (metaphorical language). Gần như trong thi ca tân h́nh thức chứa đựng một thứ siêu h́nh, trừu tượng và một thứ ngữ ngôn chăm biến hay ‘chọc quê’, bởi; ngôn từ của tân h́nh thức có thể giúp cho chúng ta nắm được mối tương quan của người làm thơ và người đọc thơ, cái đó là mạch nối giữa những ǵ lạ lẫm hoặc giúp cho ta làm nên một đối xử giữa có và không của thơ. ẩn tàng và mai mỉa là cơ bản cặp đôi của ngữ ngôn thi tứ -Methaphor and irony are the twin bases of poetical language. Tuy nhiên; vẫn nh́n nhận việc xử dụng ngữ ngôn như thế là nhấn mạnh vào h́nh ảnh (image emphasizes) một sự bộc phát tự nhiên của t́nh thương yêu, thứ đến là hài ḥa một cách điềm nhiên để cho thơ thoát tục. Yếu tính thi ca tân h́nh thức là chú trọng tới âm luật của câu thơ với tất cả vần điệu là hiệu năng trong thi ca. Trong Anh ngữ cái sự chuyển thành thơ có nghĩa rằng đó là vấn đề to tát của chất giọng (accents) và ngắt câu (pauses). Ngắt câu là chấm dứt bằng một ngữ pháp thông thường cái đó gọi là diễn đọc và viết thành thơ và như thể tạo ra kư hiệu cho ngữ ngôn. Đọc tập thơ ‘Có Những Ngày’ của nhà thơ tân h́nh thức Hồ Đăng Thanh Ngọc để thấy những ǵ thuộc nhịp điệu (rhythmical) mà tác giả xử dụng trong cùng một khuôn khổ của thơ, nó không đi ngoài những ǵ của tân h́nh thức, một điều ǵ rất thường nhưng chất chứa cái vô hạn trong đó đúng vị trí của thơ tân h́nh thức, một tỏ rơ chung t́nh giữa người và vật. Đọc để thấy, nghe và suy ngẫm suốt trong hơn 70 bài thơ đóng tập (NXB Thuận Hóa. Huế 2019) là một phản ảnh cụ thể của thơ tân h́nh thức:

Có một hoàng hôn như chiêm
Bao như ai đó đốt câu thơ cũ
thả vào cánh c̣ như ai
đó kêu lên có con chim găy chân

lạc vào rừng ngón mưa như
ai đó kêu lên bắt lấy giấc mơ
bỏ vào chai rượu như ai
đó kêu lên bắt lấy hoàng hôn thả

vào bóng đêm như ai đó
kêu lên bắt lấy con chim chơi tṛ
trốn t́m như ai đó kêu
lên về nhà bắt khói kẻo khói bay

mất chỉ c̣n một dấu hỏi
như ai đó kêu lên hăy bắt lấy
khói kẻo khói bay mất sẽ
chỉ c̣n một dấu lạnh có một hoàng

hôn như thế có ai kêu
lên

(Một Hoàng Hôn)

Hậu 75 với một thế hệ đă qua; hai mươi lăm năm trên đất người đă sản sinh những người Mỹ gốc Việt làm thơ Việt ngữ là thời điểm bùng dậy của trào lưu thi ca tân h́nh thức, h́nh thức này đă ảnh hưởng không ít vào tâm hồn của người xa xứ. Quả vậy; ḍng thơ tân h́nh thức đến đúng lúc hơn bao giờ, bởi; trong thâm tâm người làm thơ, thời ấy; như có một sự khước từ bởi bức tử như vết sẹo khó phai mờ; đó là một sự trải qua lắm chông gai. Người làm thơ lúc này không lấy qui ước để làm thơ là v́ khó để phát huy tư tưởng, nó g̣ ép, gượng gạo, thập tḥ như đứng trong ṿng thép gai. Cho nên họ phá rào để nói những ǵ từ ḷng họ một cách thỏa thê qua con chữ, phản ảnh trực tiếp những đoái hoài mong đợi để vượt thoát, để gặp gỡ tự do và từ đó họ phóng ḿnh vào một h́nh thức mới hơn như ngôn ngữ thoát tục, là một sự vượt thoát vô hạn hữu không bị chận lại (unrestrict), phủ nhận để đón nhận là hai môi trường của tâm trạng muốn bung lên bằng văn từ hay thi tứ cho một sự phản kháng, phản kháng qua tâm thức. Tâm thức ở đây là đối tượng chủ thể được qui về trong cái nh́n tương quan sự vật, một cái nh́n so sánh sự vật: cái ǵ của quá khứ và cái ǵ của hiện tại để làm sáng tỏ vũ tụ tâm hồn là ḥa nhập vào cái vũ trụ mơ về bằng mọi nỗ lực khác nhau…Lấy thi ca để xoa dịu, lấy thi ca để phàn kháng đó chính là đối tượng biểu dương, nhờ đó mà thấy được tâm trạng của ḿnh. Đó là lư luận trên cương vị giải bày tâm trạng để nhập cuộc qua lời thơ, tiếng nhạc, họ ḥa nhập như một ‘ḥa âm điền dă’ đúng tiêu chuẩn của trường phái thi ca đương đại. Thơ tân h́nh thức là ‘à la mode’ hợp thời trang thời thượng giữa lúc này.


Cuối cùng những ḍng thơ là tự nó đánh dấu của một chấm câu đúng chỗ -The end of a line of verse is itself a mark of punctuation, cái chấm câu đúng chỗ ta gọi là chấm hết (end-stopped) thơ tân h́nh thức không chấm hết mà nó được tiếp tục trong những ǵ thuộc ngữ pháp mà được coi như ḍng thơ tuôn chảy (line run-on) hoặc cùng lắm là không ngắt câu hay vắt ḍng (enjambed) mà thêm vào đó những ǵ khác lạ hơn. Thi nhân thường dùng thơ không vần hay thơ tự do là v́; nó có tính chất độc lập ở cái chỗ ngắt câu (enjambment) để cho con chữ của họ thêm trọng lượng trong thi ca. Chúng ta t́m thấy những ǵ trong đó. Qua tập thơ ‘Ngôn Ngữ Xanh’ NXB Văn Học Press. USA 2019 của thi sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh. Với nữ sĩ họ Nguyễn đă dựng thơ tân h́nh thức trước thời điểm Hoa Kỳ liệt kê tân h́nh thức là thi ca đương đại. Ư thức đó đă đến từ trong tâm hồn của người biệt xứ, chớ chẳng phải đến bây giờ mới là đương đại. Nói chung giữa kỷ nguyên của thập niên chín mươi đă h́nh thành thơ tân h́nh thức ở Việt nam nhưng chẳng mấy quan tâm v́ ‘bộ dáng’ khác lạ của nó cho nên chi phong trào tiên khởi tân h́nh thức không mấy chú ư. Thế nhưng; trường phái tân h́nh thức ở nước ta nhập cuộc trước thời điểm bùng dậy khắp toàn cầu. Bởi; một điều rất tự hào là người Việt chuộng thi ca như mạch sống. Đọc lại những bài thơ tân h́nh thức trước đây như một chứng tích của h́nh thức thi ca mới.

1.

Tôi đă mở cửa ban mai. Bằng nụ cười
Tôi đă đóng cửa ban mai. Bằng tiếng khóc
Th́ đâu là nơi. Của ánh sáng. Của bóng tối
Ngoài tôi


2.

Tôi che ánh nắng
Để t́m một bóng mát
Qua khe hở của tấm màn
Sót một đường sáng mong manh
Đường chỉ trắng. Long lanh hơn cái ánh sáng nó che
Cũng tựa như vậy. Khi tôi ngồi trong bong tối


3.

Đừng bật thêm đèn nữa
Ngày đă sáng lắm rồi
(Xin lỗi) hay v́ con mắt tôi
Đă quen rồi bóng tối …


(Sáng. Tối) Thơ NTKM 2002.

Hầu hết những bài thơ tân h́nh thức của nữ thi sĩ Nguyễn đă thực hiện là dựng trong một khung cảnh của đổi mới tư duy, thiết kế và cấu trúc đúng đường lối chủ trương của tân h́nh thức, bởi; rơ nét nhất ở chỗ gieo vần là yếu tính quan trọng trong thi ca âm nhạc –Rhyme is an important element in musical poetry (như đă dẫn ở trên). Nhưng; ít đi những ǵ kịch tính trong thi ca. Trong thơ của Nguyễn tạo được âm thanh một thứ âm thanh ‘nguyên chất /purely’ có thẩm mỹ cách (aesthetical) coi như là phong thái của thơ tân h́nh thức, cái đó gọi là điệp vận và âm vọng (alliteration and assonance). Nói rộng ra cho trọn ư: Điệp vận là lập lại cái đă có cùng chữ, cùng nghĩa. Âm vọng là lập lại cái ‘âm thanh’ nguyên âm trong cùng một nghĩa hoặc phụ trợ vào ḍng thơ. Đấy là yếu tính của thi ca tân h́nh thức.

Tóm lại bất cứ thể loại nào phải thực hiện đúng với tâm hồn thơ.Thơ đ̣i hỏi một sự độc lập, và sáng tạo không câu nệ cưỡng ép cung cầu. Thi ca là một cảm thức nhạy bén từ trí tuệ không v́ một lư do nào mà phải ‘g̣ lưng’ hay ‘rặn đẻ’ để thành thơ. Thi ca phản ảnh ḷng chân và hồn nhiên là việc tự nhiên cấu thành. Ai cũng là thi sĩ nhưng có ba hạng thi sĩ. Thi sĩ có ‘tầm cở’ và thi sĩ ‘ba phải’ thời nhất thiết không thể liệt kê là thi sĩ của thi ca ; ngay cả hàng hiệu chưa hẳn phải là hàng thiệt huống là thơ ./.



VƠ CÔNG LIÊM (ca.ab.yyc. cuối tháng 8/2020)


 

 

art2all.net