CÂU HỎI KIẾP NGƯỜI

Vơ Kỳ Điền

 

 

 

 

 

NGÀY ẤY, BÂY GIỜ

*HỒ Đ̀NH NGHIÊM

         
Thật khó khi t́m ra chữ nghe ổn thoả để gọi tên về cuốn sách mà nhà văn Vơ Kỳ Điền sắp xuất bản. Không là tạp bút, chẳng phải tản mạn. Không là nhận định, nào phải phê b́nh. Không triết lư về nhân sinh, chẳng bàn con tạo khéo xoay vần. Không đá động tới cao xanh, cũng thôi nhắc đau biển rộng hải hà… Cứ lan man chuyện này sang chuyện nọ. Từ lănh vực khó nói khôn lường như chuyện bói toán lại chuyển sang thảo mộc hiền hoà ưa khoe sắc. Hoa lá cành chưa đă bèn nhảy sang đền đài miếu mạo tận xứ Hy Lạp xa xăm chỉ thiếu Thăng Long thành hoài cổ. Ôn chuyện cũ với người này lại thấy kẻ nọ khi khổng khi không giũ áo mà đi… Vậy th́ cứ góp chung thứ đường ngang nét dọc kia lại, tạm khoác vào thân chiếc áo mong manh, phong phanh nhưng vô cùng ấm áp: “Con Chữ Tự T́nh”. Ghi lại chút tấc ḷng bởi sợ mai này trí nhớ ch́m vào cảnh sắc chiều tà: Nền cũ lâu đài bóng tịch dương!

Có chiều th́ ắt phải khởi đầu bằng sớm mai. Và b́nh minh nào mà không hân hoan khi tự thân chúng là một lên đường. Mấy mươi năm trước, chính xác là vào năm 1986, “Kẻ Đưa Đường” đă dẫn dắt tới thông lộ dựng lên tên tuổi Vơ Kỳ Điền. Hoặc ngược lại, nhà văn chọn bút hiệu mà phải hán rộng mới ngộ thấu nghĩa ẩn dấu, đă tŕnh làng đứa con đầu ḷng khôi ngô khiến văn học hải ngoại thêm chộn rộn nở bông bao hương hoa cỏ lạ. Thời điểm ấy tôi có cơ may thuê nhà không xa chỗ gia đ́nh nhỏ anh Vơ Tấn Phước (tên thật của nhà văn) cư ngụ. Anh làm việc trong hăng điện tử Philips, con trai độc nhất là cu Bi bấy giờ vẫn c̣n nhỏ, cháu có đôi mắt to giống mẹ và chừng như cả chị lẫn Bi vẫn rộng ḷng cho anh em chúng tôi dắt nhau ra ngoài quán nước bàn chuyện văn chương (vô bổ) mỗi cuối tuần. Cho dù nắng hạn, cho dù tuyết đổ liên hồi, chiếc Toyota màu xám bạc của chủ nhân “Kẻ Đưa Đường” vẫn chở tôi đi theo kiểu đến hẹn lại lên. Chừng như chúng tôi ngầm đồng ư ở một điểm, đó là phút giây t́m lại chút quân b́nh sau năm ngày (hai, ba, tư, năm, sáu) hư hao mụ người trong hăng xưởng với thứ công việc bất khả kháng. Điều nghịch lư đáng ca cẩm, tiếng là nhà văn nhưng chưa một ai xem việc vọc chữ ấy là nghề tay phải. Nếu ba đầu sáu tay, th́ nghề viết văn e phải nằm ở cánh tay thứ sáu. Chẳng hàm oan chút nào khi chúng tôi gần như sống ngoài cảnh giới này, không thực tế đă đành, nó lại soán đoạt quá nhiều thời giờ kể cả hao tâm tổn tiền bạc mua tem c̣ khi gửi bài gửi sách tới chốn xa.

Một nghịch lư khác, theo lời tâm sự của nhà văn Vơ Kỳ Điền: Thời ngụ trong cái ấp nhỏ chút xíu ḷng những mơ tưởng tới một cơi riêng yên lặng, một ḿnh một ngựa th́ tha hồ ghẹo gió giỡn trăng, bây giờ tựu thành cơn mộng hoa nở sân trước chim hót vườn sau, nhà rộng khoáng đăng mà sao ḷng nghe nguội ngắt vậy nè! Chẳng rơ nếu bạn được hoán đổi không khí, chữ nghĩa có c̣n bên bạn sum vầy?

Phải mất một dặm thời gian rơ lâu, cách biệt trong vô ngôn, vin vào bí kíp nào mà nhà văn Vơ Kỳ Điền đă vui chân trở lại chốn xưa. “Pulau Bidong Miền Đất Lạ” (1992) bề thế đă cách tân bản t́nh ca Con Đường Xưa Em Đi. Mặc dù con đường đó h́nh như chỉ c̣n ḿnh tôi mê muội cắm cúi bước. Hồ nghi để nghĩ, nhà văn Vơ Kỳ Điền chưa thực sự bắt gặp sự ổn định, lắm biến cố xảy ra khiến anh lao đao? Có khi anh xuống sáu câu tân cổ mà không giao duyên: Tui như cái b́nh điện có hai dây đen đỏ, thử ráp lại chúng cũng không chịu xẹt ra lửa. Trong trường hợp này, câu đắc địa của người Nam “nói dzậy mà hổng phải dzậy” chẳng nghe anh dùng để chấm câu. Hổng dui chút nào, hén? Chịu dậy đi nghen! Trả lời thế, th́ có hơi khiêm tốn. Và khiêm tốn cũng là một ưu điểm của nhà văn Vơ Kỳ Điền (ta dại ta t́m nơi vắng vẻ!). Nếu “Kẻ Đưa Đường” là B́nh Dương chuẩn bị vượt biên, nếu “Pulau Bidong, Miền Đất Lạ” là trại tỵ nạn đă xong phần phỏng vấn cho đi định cư, th́ tạm coi cuốn sách sắp lộ h́nh này là một ổn định trên đệ tam quốc gia. Cớ sao lại có lối so sánh từng cột mốc thế? Bởi v́ nội dung trong cuốn này chứa thiên h́nh vạn trạng tựa vùng đất mới khác phong thổ, giàu có từ cảnh sắc cho tới khí hậu riêng mang. Không phải dễ để tác hợp ra sự khác biệt rồi nhồi nhét chung vào một cảnh quang hài hoà. Phải thủ đắc một giọng kể trầm lắng, rề rà nhưng lôi cuốn, nói có sách mách có chứng và khi đặt chân vào bất kể địa h́nh nào, một lần nữa cái bản lănh của kẻ đưa đường sẽ thuyết phục bạn, trấn an bạn, rồi bạn dẫm vào lằn mức cuối hồi nào hổng hay, chạm đích trong êm ru bà rù. Bạn vừa trải nghiệm một cuộc đi dă ngoại và nói theo cổ thư: Đi một ngày đàng học một sàng khôn. Có nên dừng lại để cảm ơn hướng đạo viên mang bảng tên trên ngực áo: Vơ Kỳ Điền.

Với riêng tôi, c̣n tựu thành thêm hai điều lư thú khi nhà văn kể lại người bạn ấu thời của ḿnh là Lê Thành Nhơn và người thầy dạy học ở Thủ Dầu Một: Thanh Tâm Tuyền. Lư thú ở chỗ gần như trái khoáy: Bạn của nhà văn lại là thầy của tôi, trong khi thầy của nhà văn lại xem tôi như một đứa em.

Giáo sư Lê Thành Nhơn, năm 1973 được mời ra Huế thỉnh giảng bộ môn điêu khắc ở trường Cao đẳng Mỹ thuật. (Huế mang ơn thầy về bức tượng Quan Âm dựng đặt ở trung tâm Liễu Quán và tác phẩm đồ sộ, cách tân, đẹp phóng khoáng có ở tượng cụ Phan Bội Châu). Phút đầu, người có tác phong khác thường ấy đă thu phục đám sinh viên bất kể ở bộ môn nào, người mang cơn gió lạ từ Sài G̣n ra, lạ từ phương cách giảng dạy và lạ ở vẻ bọc bên ngoài. Không có ǵ chính xác cho bằng đoạn văn tả người của bạn xưa Vơ Kỳ Điền: “Thân h́nh lực lưỡng, xương to, da đen mun, mắt lộ kiểu mắt ốc bươu. Đầu to, tóc quăn xoắn, xương quai hàm bạnh ra, mặt vuông h́nh chữ điền. Thoạt trông th́ gồ ghề, bặm trợn, gân guốc, dễ sợ nhưng tánh t́nh lại hiền khô… Tóm lại th́ toàn bộ toát ra một vẻ ǵ đặc biệt kỳ lạ, không giải thích được”.

Nếu có một lời giải thích th́ cho tôi thêm vào: Lê Thành Nhơn chính danh là một người nghệ sĩ. Điểm này có thể không gán vào tên tuổi Tê Tam Thừa, bởi Thanh Tâm Tuyền trước tiên và sau cùng là một thi sĩ. Thanh Tâm Tuyền có viết cuốn truyện dài “Một Chủ Nhật Khác” rất tuyệt nhưng mọi người mặc nhiên gọi anh là nhà thơ. Nhà thơ đă có thời đi dạy học ở vùng đất hiền hoà, nơi lớn lên của điêu khắc gia Lê Thành Nhơn và nhà văn Vơ Kỳ Điền. Khi lưu lạc và thất lạc bộn bề những vật đổi sao dời, thầy tṛ đă bắt được liên lạc với nhau. Thanh Tâm Tuyền viết thư (chuyện này hơi hiếm hoi, cá biệt) cho Vơ Kỳ Điền, tâm sự về những chặng đời, đọc lên nghe cảm động. Bài viết về người thầy cũ của anh Vơ Kỳ Điền có thể dùng làm tư liệu bổ túc thêm về nhà thơ tài hoa trong chặng đường thăng trầm sau hoạn nạn 75. Không hiểu sao, tôi chợt nhớ đến bài “Vượt Biên”, chữ dùng riêng cơi chẳng cần ghi tên cũng biết ngay ai là tác giả:

“Cúi trông cố lư mây vô xứ
Ngầu trắng u mông táp mạn thuyền
Ngút ngọn triều dâng vách sụt lở
Bọt xoá thiên thanh dấp sóng quên”.

Tôi và nhà văn Vơ Kỳ Điền từng là thuyền nhân, đôi lần tôi lỡ “dấp sóng quên” nhưng muốn “trông về mây vô xứ” th́ vin nhờ vô những trang viết sống động của nhà văn Vơ Kỳ Điền. Cuốn thứ ba này của anh “ngút ngọn triều dâng” bằng một chuyển hướng khác. Và như đă thưa, nhà văn vén tay áo, hạ bút đụng tới lắm đề tài. Nhà văn vô t́nh hoá thân làm một tụ điểm dừng chân, phục vụ thoả đáng cho lữ thứ một thứ “thực đơn” đa dạng mà dù có khó tính tới cỡ nào đi nữa bạn sẽ mặn miệng t́m ra ở đó một thức ngon. Không riêng tôi, chị Đặng Lệ Khánh, chủ nhân trang nhà Art2All bên Calif. cũng thường tấm tắc ngợi ca người sống tuổi hoa niên thầm lặng ở B́nh Dương nay làm người kín tiếng sống lối xóm cùng tôi tại Mộng Lệ. Ôi, một nhà văn hiền hoà trong cách sống, trong ứng xử, trong văn phong, trong cách nh́n vật thể, khi viết ra chữ th́ buộc ta phải trải ḷng đón nhận vậy!

Tôi rất vui sướng khi được góp mặt trong cuốn sách này, chút cảm nhận được nằm chung cùng với những trang giấy giàu có t́nh nghĩa của một người luôn t́m kiếm vẻ đẹp qua những vật thể dẫu vô tri. Bờ cây bụi cỏ hay cảnh quang một địa danh đều được anh kư gửi bao tâm sự, mà nổi bật ở đó là ḷng thương nhớ tṛ cũ trường xưa. Một câu thơ Đường, một lá thư đến từ xứ lạ đều là cái cớ nhằm giúp anh giải bày đôi ba kỷ niệm thăng hoa trong khốn đốn. Ngậm ngùi luôn sánh đôi với hướng thiện, luôn lên án sự bạc ác xấu xa. Đôi lúc tôi mang ư nghĩ nhà văn Vơ Kỳ Điền chẳng khác ǵ h́nh ảnh một vị quan thanh liêm, cởi áo từ quan lui về chốn vắng, sống đời đạm bạc để sớm tối hàn huyên với quá khứ đă lỡ ch́m đi trong bể dâu. Tôi muốn mượn lời của Nguyễn Du (chở củi về rừng) để thưa cùng tác giả:

“Tam nguyệt xuân thi trưởng đạt miêu
Thiên lư hương tâm dạ cộng trường
Tha nhật xuân phong hà xứ lai?
Cố hương can hạn cửu phương nông”.

Có người chuyển dịch:

Tháng ba xuân đậu nẩy đều
Quê hương muôn dặm dạ sầu theo
Gió xuân mai mốt về đâu biết?
Quê hương nắng hạn đă lâu ngày.

Thưa anh Vơ Kỳ Điền, tôi vẫn luôn ươm niềm tin, rằng có khi anh sẽ là cơn gió xuân nhằm giải hạn dạ sầu. Quả đúng thế, cuốn sách sẽ góp mặt với đời chừng như đă vừa dồn qua tôi một lượng sóng nhỏ. Tôi cũng kỳ vọng vào bạn đọc bốn phương, họ sẽ đón nhận, rồi thốt lên: Ồ, thích thú khác ǵ tha phương ngộ cố tri! Kẻ đưa đường ngày nào đang trở lại cùng chúng ta. Tóc đă phai, áo đă bạc nhưng nào có hề ǵ. Thuỷ chung và quan trọng là nhà văn vừa đốt thắp lên đốm lửa, bùng cháy toả lan sưởi ấm nhân quần. Trong muôn một, há chẳng phải đó là một hạnh phúc hiếm hoi giữa đoạn cuối đường sao?



Hồ Đ́nh Nghiêm
Montréal. 30. 11, 2017

 

Vơ Kỳ Điền - Hồ Đ́nh Nghiêm
 

 

Vơ Kỳ Điền

 

art2all.net