NGUYỄN AN B̀NH
 

 

CẢM NHẬN TẬP THƠ

"NGỒI HÁT VU VƠ" CỦA VŨ THỤY NHUNG


MẸ, EM VÀ QUÊ HƯƠNG NỖI NHỚ

 


 

 

Nhà thơ Vũ Thụy Nhung gởi bản thảo tập thơ “Ngồi Hát Vu Vơ” cho tôi khá lâu nhưng tôi vẫn c̣n đọc để t́m hiểu cái t́nh của bạn sau những ḍng thơ, con chữ kia ẩn chứa điều ǵ mà tôi chưa nắm được. Càng đọc tôi càng khám phá ra thơ anh có những cái mới, cái lạ trong sự t́m ṭi cách diễn đạt nội tâm mà không phải ai cũng có được. Tôi thường ít viết cảm nhận thơ cho ai nếu cảm thấy ḿnh chưa đủ sức hay thật sự không có cảm hứng để viết nhưng với thơ của Vũ Thụy Nhung th́ khác bởi cái t́nh gắn bó gần gủi với nhau đă lâu th́ không thể.

Vũ Thụy Nhung là bút danh của Mai Hoàng Dũng – một cái tên đẹp – nhưng không biết sao anh lại không dùng mà lấy bút danh bằng cái tên đầy nữ tính dành cho con đường thi ca của ḿnh. Vũ Thụy Nhung sinh năm 1967 quê ở thôn Bàn An, xă Phổ Phong, huyện Đức phổ, Quảng Ngăi. Anh rời quê hương hành phương Nam gần 20 năm nay. Một lần tôi hỏi anh v́ sao bỏ quê vào Nam sinh sống, anh thật t́nh nói lúc ấy ḿnh cùng Thanh Thảo thực hiện tờ Sông Trà làm mất ḷng một số người(xuất bản duy nhất 1 số và sau đó bị thu hồi) nên phải bỏ quê mà đi. Vào Sài G̣n làm báo Giáo Dục Tp Hồ Chí Minh, sau 3 năm gắn gó rồi cũng rời tờ báo ra đi, anh làm đủ thứ việc để mưu sinh giờ trụ lại ở công ty Goldorient VN, phụ trách mảng chuyên trang thiết kế thời trang đến hiện giờ. Cuộc sống riêng tư của Vũ Thụy Nhung cũng không mấy suông sẻ, hai lần có vợ th́ cũng hai lần nói tiếng chia tay. Anh làm thơ từ năm 14 tuổi, hai lần đoạt giải thưởng của báo Thiếu Niên Tiền Phong. Thơ in rải rác trên các báo và nhiều tuyển tập, nhưng in riêng th́ “Ngồi Hát Vu Vơ” lại là tác phẩm đầu tay của anh. Nói như thế để thấy rơ con đường đến với văn chương của anh nhiều gập ghềnh không bằng phẳng và anh rất vui khi tŕnh làng đứa con tinh thần đầu tiên của ḿnh.

Tôi quen và gặp nhà thơ Vũ Thụy Nhung nhiều lần, khi th́ giang hồ cùng Lưu Lăng Khách ở quận 7, khi th́ ở Quận 4, thậm chí chén thù chén tạc ở nhiều nơi từ G̣ Vấp qua B́nh Thạnh rồi về quận 4, tôi vẫn thấy một Vũ Thụy Nhung là một kẻ làm thơ đầy khiêm cung, chân t́nh và năng nổ cùng bè bạn văn chương. Mặc dù lưu lạc vào phương Nam khá lâu nhưng giọng Quảng của anh không hề thay đổi và người nghe nhận ra ngay gốc gác của anh. Điều nầy làm tôi nhớ đến bài thơ Hồi Hương Ngẫu Thư của Hạ Tri Chương thời Thịnh Đường:


Thiếu tiểu ly gia, lăo đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao tồi.
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn, khách ṭng hà xứ lai?


Học giả Trần Trọng Kim đă dịch:


Bé đi, già mới về nhà,
Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa.
Trẻ con trông thấy hững hờ,
Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao.

“Ngồi Hát Vu Vơ” cũng là tên bài thơ mở đầu của tập thơ nhỏ nầy. Bài thơ chỉ có 19 câu chia làm 3 đoạn nhỏ: Mỗi đoạn được lập và nhấn mạnh h́nh ảnh “Ta chạy”: Từ việc chạy rong chơi ḷng ṿng, khi th́ làm “đôi chân ray rứt”, lúc lại “Rồi ta gục ngă”, rồi th́ “Làm ta muốn khóc” đă làm tác giả chợt nhận ra cuộc đời của ḿnh “Ta chạy đi đâu cũng gặp ngày xưa”. Ngày xưa đó là ǵ: “Mẹ ta không chồng. Ở vậy nuôi con. /Đưa em qua ḍng sông tuổi thơ. Lần đầu tiên ta mất ngủ. /Chỗ mẹ nằm xanh cỏ. Thôi ta đành ngồi xuống hát vu vơ.” Như vậy “Mẹ”và “Em” là hai phạm trù, hai đối tượng in đậm khắc họa rơ nét trong thơ của Vũ Thụy Nhung với những ám ảnh khôn nguôi.

Với mẹ là những vần thơ trăn trở về h́nh ảnh thật chân phương nhưng nặng ḷng thương nhớ. Anh viết thơ như trút từ máu thịt con tim cho một t́nh yêu mẫu tử. Tôi rất thích mấy câu thơ sau đây của anh:


Qua sông...
Mẹ tôi quẩy gánh rau lang
Đi lúc con gà chưa đập cánh gáy
Đèn lồng trăng nghiêng rớt phía non tây
Phiên chợ nhạt nḥa tan khi trời sáng
Mẹ trở về kịp buổi làm đồng tính điểm

(Qua Sông)

Mẹ-xương-rồng-trước-gió
Chịu bao mùa băo giông
Chỉ một điều duy nhất
Mẹ mong ta thành người

Nước mắt lẫn nụ cười
Niềm vui đan đau khổ
Ta gục đầu trên mộ
Mặn chát cả mùa xuân

(Tưởng mẹ - Mùa xuân)


T́nh yêu trong thơ Vũ Thụy Nhung cũng thế, luôn ẩn chứa nhiều rủi ro mất mát, nó h́nh dung như một giải băng đen trải trên con đường anh đi ngầm báo hiệu trước những băo giông trước mắt:


Em yêu dấu
“Bây giờ là tháng mấy”...
Làm sao biết khi anh đưa tay lên phía trái ngực ḿnh
Đính vào giải băng đen
Ngày cũng quên tháng anh không c̣n nhớ
Chỉ có em trong tâm tưởng cuộc t́nh
Để rồi:
Anh như cội phượng già bật gốc trước mùa thu...

(Giải băng đen cuộc t́nh)


Ở giữa đất Sài G̣n, sớm chiều mưa nắng, nỗi nhớ lặng lẽ đi về, có ai hiểu được tấm ḷng đợi chờ của người phía chân mây chăng?


Giờ đâu thể Sài G̣n hai mùa mưa nắng
Đâu thể “áo lụa vàng” em dắt nắng chung chiêng
Mà anh ngập nỗi nhớ
Vàng ánh đèn buốt gió mảnh trăng quê
...Về đi nhé em, về đi nhé
Bữa cơm chiều anh vẫn ngóng đợi em

(Chờ phía chân mây)


Đôi khi anh mượn tiếng đờn ḱm trên sông để giải bày tâm sự của ḿnh:


Chiều rớt giọt đàn ḱm
Nhẹ câu xề xuống giọng
Đ̣ bao giờ cập bến
Ướt ḷng em bên sông

(Viết vội thay cho duyên)


T́nh yêu, t́nh quê đôi khi cũng ḥa quyện gắn bó làm một:


Trong những ngày khốn khó
Em không về sao Ch.
Câu thơ có nỗi đau
Anh tin rồi em hiểu
............
C̣n thơm mùi em
Ṿng tay c̣n hơi ấm
Em không về sao Ch.
Gió khua ḷng xa ngái

(Gửi thị trấn Đức Phổ&Ch. Sau 25 năm)

 

Tôi chợt nhớ đến Hà Huy Hoàng một người bạn đồng hương với Vũ Thụy Nhung có nhận xét khá thú vị khi đọc bài “Trái tim mùa hạ” của “gă”:

Người nổi tiếng có thơ hay là lẽ đương nhiên; nhưng người ít nổi tiếng không có nghĩa là không có thơ hay đâu nhé. Theo tôi, “Trái tim mùa hạ cũng là một bài thơ hay. Xin lỗi, tôi chỉ nói là bài thơ hay, chứ không bao giờ nói là bài thơ xuất sắc trong nhiều bài thơ của gă đâu nhé. Hơi thơ không mới, nhưng hồn thơ và t́nh thơ đôn hậu, chân thành làm nên thành công, cho bài thơ nầy chăng! Cá nhân riêng tôi yêu thích bài thơ nầy, khi thơ được viết trong hoàn cảnh cảm xúc đặc biệt gắn liền với tâm sự và nỗi niềm của chính ḿnh, chắc chắn bài thơ sẽ có một chút ǵ đó đọng lại xứng đáng để được gọi là thơ! Tại sao không...” 

Tôi nghĩ chính v́ tập thơ có tên “Ngồi Hát Vu Vơ” nên đôi khi anh làm thơ anh không câu nệ t́m tựa cho nó làm ǵ, chỉ ghi đơn giản là “Không Đề”, trong cả tập thơ có tới 5 bài thơ “Không Đề” có thể làm cho người đọc thơ không vừa ư lắm nhưng theo tôi thế mà lại hay v́ mỗi một bài “Không Đề” lại bày tỏ, phơi phóng một tâm trạng khác nhau, đa đoan cùng con chữ làm ǵ và hăy để người đọc tự cảm nhận có sao đâu:


Tôi c̣n tôi với chính tôi
Ngă nghiêng che khuất chỗ ngồi dáng xưa
Tôi c̣n sáng nắng chiều mưa
C̣n đêm mộng mị thuở chưa biết người...


Xứ Quảng một dăi đất miền Trung gắn liền với biển nên trong thơ Vũ Thụy Nhung biển cũng là một khúc đồng dao từ ngày xưa đi qua cuộc đời anh:


Người đàn bà ở biển
Ngồi đếm thời gian qua mắt lưới
Ánh đèn chong nỗi nhớ vào đêm
Khát khao được làm vợ có chồng...

(Khúc đồng dao)


Ta trở về trước biển chiều nay
Nghe sóng nhắc tên người năm cũ
Nửa đời ta cánh chim di trú
Th́ làm sao t́nh chẳng vụt bay

(Và Biển Bây Giờ)


Trong cuộc đời văn nghệ, tôi quen khá nhiều nhà thơ xứ Quảng: Có người sống và làm việc ở quê nhà như Hồ Nghĩa Phương, người xa xứ mưu sinh như Lưu Lăng Khách, Ngă Du Tử và anh..., tôi nhận ra trong thơ họ luôn có cái t́nh gắn bó với xứ Quảng thân yêu không bao giờ vơi cạn, luôn nồng nàn thấm ngọt nước sông Trà, sông Vệ, gợi nhớ bến Tam Thương, đá La Hà, sen hồng Liên Chiểu:


Ta về Quảng Ngăi t́m em
Mưa giăng tháng chạp đất mềm đường trơn
Mưa về biển trải thâm sơn
Mưa rong phố gió dỗi hờn nét môi
(Về Quảng Ngăi)


Em có về Quảng Ngăi với anh không
Khi mùa xuân c̣n ngập ngừng ngoài ngơ
Đất miền Trung đă qua mùa mưa gió
Nụ hoa vàng x̣e nắng ngóng bên sông
......
Dẫu ḷng ta không một chút cách chia
Anh hái tặng em đóa sen hồng Liên Chiểu
Và Quảng Ngăi khi em về sẽ hiểu
Cơi ḷng anh như ngọn sóng sông Trà

(Em có về Quảng Ngăi với anh không?)

 

Chính cái t́nh tha thiết, nỗi nhớ quê qua lời nhắn gởi chân t́nh mà bài thơ Em có về Quảng Ngăi Với Anh Không? đă được nhạc sĩ Từ Tấn Lực đồng cảm phổ thành ca khúc “Quảng Ngăi Ta Về” một thời đă được nhiều người yêu thích và biết đến. Người nhạc sĩ ấy từng tâm sự: “Một chiều cuối tháng 4.2015, v́ sắp nghỉ lễ nên đường phố cũng trở nên vắng hơn ngày thường. Lang thang lướt báo trên mạng, bất chợt, như một sự t́nh cờ hữu duyên, mắt tôi dừng lại khi gặp bài thơ “Em có về Quảng Ngăi với anh không?” của tác giả nhà thơ Vũ Thụy Nhung. Một cảm giác nhớ quê, nơi ḿnh chôn nhau cắt rốn, một ước nguyện muốn làm việc ǵ đó để tri ân quê hương và một giây phút thăng hoa nên giai điệu chợt h́nh thành. Và thế là ca khúc Quảng Ngăi Ta Về được ra đời.” Cái hữu duyên giữa thơ và nhạc là vậy nhưng có mấy ai t́m được cái duyên như thế nhỉ?

Nhà thơ Vũ Thụy Nhung là người con xứ Quảng xa quê và lấy Sài G̣n làm quê hương thứ hai của ḿnh nên cái t́nh với mẹ, em và quê hương miền biển ấy luôn ẩn hiện trong thơ anh mang nét hoài cảm vấn vương say đắm: “Gió lay chao đảo liêu xiêu. Gă kia ngớ ngẩn vẫn yêu bởi bùa...”.

Trong đại dịch Cô-vit, với vai tṛ phụ trách công tác mặt trận một phường Quận 4 anh tham gia công tác thiện nguyện rất nhiệt t́nh. Đối với bạn bè văn chương: anh tham gia trang Dấu Chấm Than Quay Ngang, tổ chức ra mắt sách cho thân hữu, tham gia ban biên tập tập san Sông Quê, tôi thích anh v́ những điều như thế nên cũng yêu thơ anh là vậy. R. Tagore có nhận định: “Cũng như nụ cười và nước mắt, thực chất của thơ là phản ánh một cái ǵ đó hoàn thiện từ bên trong”, tôi nghĩ thơ Vũ Thụy Nhung cũng bắt đầu như vậy và hy vọng trong tương lai ta bắt gặp một Vũ Thụy Nhung có những bài thơ mới mẻ và thấm sâu vào ḷng người hơn.
 

Sài G̣n, bên bờ Kênh Tẻ, tháng 10-2022

NGUYỄN AN B̀NH

 

 

art2all.net