Vũ thị Ngọc Thư

 

 

 NẮNG THU, MẦU NHỚ

 

 

 

          Một thuở, có những tà áo nữ sinh Sài G̣n mê mải nh́n màu sắc cầu vồng rực rỡ sau những cơn mưa bóng mây thoáng rơi, vội tạnh mà bâng khuâng thả hồn theo những vần thơ hồn nhiên đáng yêu của nhà thơ Nguyên Sa:

Sài Gòn cười đôi môi rất tròn
Vòng cung màu đỏ, nét thu cong
Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng
Hay đã đưa dần sang nhớ mong ...

(Tám Phố Sài G̣n – Nguyên Sa)”

 

 

Như Một Vườn Thơ
 

          Khi vài tia nắng hanh hao dịu dàng hơn bắt đầu thấp thoáng trên những con đường rợp bóng hàng cây sao trước cổng trường th́ các bạn và Thi lại xôn xao, rộn ràng, háo hức chờ đến ngày khai giảng năm học mới để được trở lại khuôn viên ngôi trường yêu dấu. Ngày ấy, những khoảnh khắc chờ đợi làm thời gian chùng lại, mùa trôi dùng dằng hơn, tiếng ve cuối hè rời rạc chậm dần, rồi rền rỉ vang hơn. Và rồi ngày khai trường cũng đến ...

Buổi mai hôm ấy, mây trời tươi hồng rực rỡ, không gian dặt d́u âm điệu nhạc du dương vui nhộn như reo, như múa, khi thánh thót, lúc rộn ră, len lỏi theo gió, ṿng bóng nắng, lướt múa cùng mây, tưng bừng dập dồn theo những giai điệu và ca từ mượt mà, ngọt ngào trong các bài hát Tuổi Thần Tiên, Tuổi Hồng, Tuổi Ngọc [1] vào lúc bao tà áo trắng tung tăng như những đôi cánh thiên di rủ nhau bay về ríu rít bên cổng trường.

Ngày ấy, với các bạn và Thi, trường không chỉ là nơi tiếp thu kiến thức, thi đua học tập, rèn luyện đạo lư, h́nh thành nhân cách, hoàn tất mọi kỳ thi được ấn định bởi chương tŕnh giáo dục, mà c̣n là một khu vườn thi ca tao nhă có nhiều điểm hẹn để thổ lộ tâm t́nh, lắm nơi tụ họp để chia sẻ hoài vọng, là chốn để đùa vui thỏa thích những ngày tuổi hoa. Trường c̣n là nơi khắc ghi bao kỷ niệm êm đep, nghĩa t́nh thầy tṛ cao quư, thâm giao bằng hữu nồng ấm, nơi mà thầy và tṛ đều muốn đến v́ có niềm vui, sự thương yêu, nhiều mong chờ, và những măn nguyện; Và trường cũng đă chứng kiến vài khoảnh khắc ly biệt đầu đời, khi phải tiễn đưa người bạn bất hạnh rời trường, hoặc giă từ cô giáo yêu quư để lên lớp trên, lúc tiếc nuối ngày hè râm ran tiếng ve phải tạm chia tay bạn bè. Nỗi chia ĺa ngậm ngùi âm hưởng nao ḷng của câu thơ vọng tha thiết trong lớp học:

đưa người ta không đưa qua sông
sao có tiếng sóng ở trong ḷng


(Tống Biệt Hành, Thâm Tâm)

Trở về trường mỗi đầu năm học mới, các cô học tṛ như lớn hẳn lên, và họ lại càng hồn nhiên yêu mến trường, quư trọng thầy cô giáo hơn, gắn bó không rời với bạn bè cùng lớp. Có một thời, bạn bè là tất cả những ǵ tốt đẹp nhất trong cuộc sống của các cô nhỏ, v́ bạn luôn mang cho họ niềm vui, sự chia sẻ, t́nh tương trợ, những khoảnh khắc hạnh phúc trong lành ngoài khuôn khổ gia đ́nh. Nhất là những lúc được cùng bạn chơi đùa, tâm t́nh, thủ thỉ những câu chuyện khơi mở bao điều thú vị, kỳ diệu về cuộc sống.

Khi được học sâu thêm vào chương tŕnh Việt Văn trong những năm đệ nhị cấp, cả lớp Thi đă vô cùng tự hào và thích thú khi cô giáo giảng dậy về tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, trong một buổi học, đă thi vị hóa vị trí của trường với cách diễn giải thú vị là tâm hồn học tṛ sẽ muôn thuở được tưới tẩm ngọt ngào bằng các ư tưởng nhân văn, ngôn từ tao nhă trong thơ phú trác tuyệt của ba danh sĩ lỗi lạc của đất nước. V́, ba trong bốn con đường bao quanh trường Gia Long mang tên các thi hào, nhà văn mà tên tuổi được khắc ghi măi như nữ sĩ Hồng Hà, bà Đoàn Thị Điểm (sau 1975 là đường Trương Định), thi sĩ Bà Huyện Thanh Quan, và học giả danh sĩ Ngô Thời Nhiệm (hoặc Ngô Th́ Nhậm). Riêng con đường phia trước cổng trường, Phan Thanh Giản (sau 1975 là đường Điện Biên Phủ), là tên của cụ quan đại thần triều Nguyễn, danh sĩ đỗ Đại Khoa Tiến Sĩ đầu tiên của miền Nam đất nước và là bậc ái quốc rạng ngời khí tiết. Ngoài ra, c̣n có đường Hồ Xuân Hương, mang tên người nữ sĩ tài ba nhưng phận số hẩm hiu, cũng chỉ cách trường một đoạn ngắn, trên lối Bà Huyện Thanh Quan dẫn về hướng đường Phan Đ́nh Phùng (sau 1975 là đường Nguyễn Đ́nh Chiểu).

Cảnh quan trên những đoạn đường vinh danh các văn nhân tài hoa này có vẻ như luôn được nhà nước, nhân viên của trường, và cư dân trong phố chăm chút, giữ ǵn cẩn thận. Suốt bao năm tháng ấy, quanh trường, mấy hàng cây mướt xanh luôn lao xao dao động tiếng lá, những lối gạch thẳng miên man âm guốc học tṛ, những vuông cỏ quanh co lối sỏi trắng thoang thoảng hương hoa sứ, những bờ tường rào thi vị sắc mầu ṿm hoa rũ. Mọi cần mẫn để bảo tồn vẻ thanh lịch của khu phố có lẽ đă nảy sinh, một phần từ ḷng cảm nhận, yêu mến, và trân quư nội dung nhân văn của các tác phẩm đề cao t́nh tự dân tộc và tư duy từ ái về thân phận con người. Sâu thẳm hơn, là ḷng ngưỡng mộ khâm phục của đại chúng với tài năng sáng tạo vượt bực của các văn nhân trong phong cách họ sử dụng ngôn ngữ mẹ nhuần nhị, chuẩn xác từ vựng, lịch lăm sâu sắc, dặt d́u âm điệu, sống động h́nh ảnh, và phong phú ư tưởng đề cao thiện, mỹ. Ngôn từ của họ đă phần nào giúp giới thiệu diện mạo đất nước một cách sinh động, khả ái, thi vị, và diễm lệ hơn. Thi ca của họ c̣n thể hiện sức mạnh tinh thần, bản sắc văn hóa, giá trị đạo đức, và khát vọng yên b́nh của dân tộc.

Qua năm tháng, nhờ sự lưu hành phổ biến rộng răi của các tác phẩm đặc sắc trong dân gian mà tiềm năng nghệ thuật và tính chất bác học của ngữ văn Việt đă được khẳng định, phát triển, và khởi sắc rạng rỡ. Những kiệt tác văn học của các văn nhân, thi sĩ đă truyền đạt tư tưởng thâm sâu, quan điểm nhân văn qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ văn học rất uyên bác, tinh luyện, mà vẫn đặc thù nét dân gian, giản dị, truyền thống. Ngoài bút pháp tài hoa lịch lăm, xuyên suốt mọi tác phẩm, người đọc c̣n cảm nhận phong cách diễn đạt thấu triệt tâm lư các nhân vật, lập trường minh bạch về một số chủ đề nhân sinh quan, cùng sự mô tả trung thực về bối cảnh thời đại của câu truyện, và các biểu đạt rơ ràng về thông điệp muốn chuyển tải.

Những tác phẩm giá trị này đă góp phần định h́nh sự phát triển của văn học nước nhà. Những tập trường thi, áng văn trong chương tŕnh học, không những đă rực rỡ tinh hoa trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ, mà c̣n hiển lộ giá trị trường cửu v́ ẩn chứa chất liệu lịch sử, mầu sắc văn hóa của thời đại, và sự nhận định, quan điểm về cuộc sống của nhân vật trong tác phẩm. Các tập truyện, thơ đặc sắc này là những thành quả vàng son tự hào của văn học đất nước, và trong một giới hạn nào đó, đă hiển thị tầm vóc văn hóa của thời đại, như một đóng góp đáng kể vào kho tàng nghệ thuật của nhân loại.

  Và cứ thế, nhiều tác phẩm văn thơ danh tiếng được ngâm nga truyền dạy từ năm này qua năm kia trong các ngôi trường trung học truyền thống ở miền Nam thời đó. Nữ sinh, vốn có nhận thức nhiều cảm tính, nên khi được tiếp xúc với ngôn ngữ thơ ca, khá nhiều cô học tṛ đă say mê chăm chú lắng nghe từng câu, chữ thật chậm răi, đă giữ tâm hồn dừng lại lâu hơn khi thưởng thức giai điệu của vần nhịp thơ, đă cảm thấu mức độ sâu sắc tinh hoa của ngôn từ sử dụng, và cũng đă ưu tư t́m ṭi, suy ngẫm về các quan điểm hay ư tưởng truyền đạt qua tác phẩm. Dần dà, khả năng thẩm thơ của họ đă được khai mở, bồi dưỡng thêm tươi mát, góp phần mở rộng kiến thức sâu rộng hơn. Họ thưởng thức, trân trọng, và ngưỡng mộ tính chất nghệ thuật của ngôn từ trong văn học.

Từng năm học trôi, nhận thức của các cô học tṛ cũng dần tinh nhạy hơn, họ có thể hiểu phần nào ư nghĩa các từ vựng được kết hợp sáng tạo, cảm nhận mức độ truyền cảm qua tiết nhịp trầm bổng của câu thơ, nhận biết sự rung động đặc biệt khi ḥa nhập theo ḍng biểu đạt tâm tư của thi văn sĩ, trải nghiệm sự kỳ thú khi nhận biết phương cách sắp xếp ư tưởng mạch lạc và các biến hóa dùng để cách tân kiến trúc các câu, chữ làm đoạn văn hay câu thơ hay, nồng nàn, t́nh cảm hơn.

Tuy vụng dại non nớt chưa đủ khả năng hiểu biết sâu rộng, tường tận, và cũng thiếu kiến thức hay kinh nghiệm để suy ngẫm sâu xa về ư tưởng, diễn giải tường tận các điển tích dùng hoặc thông suốt trọn nghĩa ngôn từ hàm súc của thi ca; Nhưng nhiều cô học tṛ đă bắt đầu vương vấn, yêu thích văn thơ rồi tập tành ghép chữ, hồn nhiên thả vài nụ thơ xinh xắn trên những trang bích báo học tṛ, góp phần tô điểm thanh tao, thi vị các vuông tường dọc hành lang lớp học.

Các cô nữ sinh không chỉ nghĩ về thơ văn trong khuôn viên trường, mà c̣n mơ mộng diễn đọc hay ngâm nga những câu có ư hay, vần đẹp, nhạc điệu êm trên các lối gạch nhỏ quanh trường và khắp ngơ đường quen đi về hàng ngày. Đâu đâu cũng thỉnh thoảng có tiếng bạn bè cùng xướng, họa những đoạn thơ giải bầy tâm tư, t́nh cảm tuổi học tṛ, thanh xuân trong trẻo của thanh niên, thiếu nữ mới lớn. Sự lan truyền mạnh mẽ của những bài thơ học tṛ đáng yêu của các thi sĩ tên tuổi rất được yêu thích thời đó như Nguyên Sa, Phạm Thiên Thư, Nhất Tuấn, Nguyễn Tất Nhiên, ... đă góp phần làm ríu ran thêm phần kư ức vàng anh của những cô nữ sinh tuổi 15, 17. Một thuở, có những tà áo nữ sinh Sài G̣n mê mải nh́n màu sắc cầu vồng rực rỡ sau những cơn mưa bóng mây thoáng rơi, vội tạnh mà bâng khuâng thả hồn theo những vần thơ hồn nhiên đáng yêu của nhà thơ Nguyên Sa: 

Sài Gòn cười đôi môi rất tròn
Vòng cung màu đỏ, nét thu cong
Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng
Hay đã đưa dần sang nhớ mong ...


(Tám Phố Sài G̣n – Nguyên Sa)

Bao năm qua rồi mà Thi vẫn nhớ giọng ngâm trêu chọc Thủy của Vi qua mấy câu thơ ngộ nghĩnh, như thể đă được viết để diễn tả tâm tư của nàng thơ nhu ḿ, kiều diễm của lớp Thi ngày ấy. Cho đến bao giờ mới tan hẳn h́nh bóng chiếc cầu vồng bắc giữa mưa và nắng ... để nhịp guốc quai nhị gót sen của nàng thơ lại vô tư lách cách vang rộn ră trên lối gạch quanh các bờ rào sân trường?

Thi chỉ nhớ, ngày ấy, những đoạn đường quanh trường luôn tĩnh yên, bàng bạc sắc thái thanh tao, trang trọng như các lối dẫn về một vườn thơ ca cổ. Trong đó là một không gian văn hóa nghiêm túc, là chốn giảng dậy, truyền đạt về kiến thức và rèn luyện nhân cách, đạo đức để các cô học tṛ trở thành người biết hành xử đàng hoàng, tử tế. V́ thế, trường học là chốn vô cùng thân thương gần gũi, ngày ngày đi, về, tâm sự, vui đùa sau những lúc được ở nhà cùng bố, mẹ và anh, chị, em.

Trong khuôn viên trường, thầy cô luôn thương yêu chỉ dậy, ân cần hướng dẫn học tṛ như cha mẹ, và bạn bè là những nụ mai đáng yêu, chập chờn cùng vui múa trong vườn hoa xinh đẹp, muôn mầu, nhiều sắc, thanh thoảng hương. Với một số bạn và Thi, những đóa hoa đẹp nhất của vườn ngày ấy là các trích đoạn đặc sắc trong những tập trường thi diễm lệ, nhiều mầu sắc, những trang sách đề cao tư tưởng nhân văn, các bài thơ lời hay ư đẹp, và bao pho sách thâm sâu ư tưởng được kế thừa từ kho di sản hiếm quư của tiền nhân đă được đặt vào chương tŕnh học. Thêm vào đó, sự truyền dạy nhiệt tâm, diễn giải thông suốt, dẫn dắt điển tích, say mê hướng dẫn của các thầy cô giáo yêu nghề, nhiệt huyết đă làm tăng bội phần giá trị của các ư tưởng sâu sắc tiềm ẩn trong những câu thơ hay các đoản văn bất hủ. Nhiều cô học tṛ đă như bị mê hoặc trong những giờ Việt Văn được học về ngôn ngữ, thi ca tinh hoa của dân tộc.

Ở mấy góc đường quanh trường c̣n có bảng tên của các danh nhân mà tài năng văn chương của họ đă tạo nên những dấu ấn vàng cho đất nước. Có thể, v́ sự trân trọng cảm phục, đôi khi người qua phố đă nhẩn nha dừng lại, dành ít giây phút, lắng đọng, như để tưởng niệm sự đóng góp giá trị của kiến thức khoa bảng uyên thâm, văn chương lỗi lạc, và phong cách chữ nghĩa lịch lăm, một thời vang bóng của các quan văn, nữ sĩ được vinh danh giữa khu phố đậm nét học thuật của thủ đô thời bấy giờ.

Thỉnh thoảng không gian bác cổ ấy c̣n thanh thoát tiếng ngân huyền hoặc của hồi chuông đại hồng [2] kỳ vỹ từ ṭa tháp cao vút trong khuôn viên chùa Xá Lợi. Chuông vọng lăng đăng trên các ṿm cây cổ thụ cao, nhẹ nhàng len lỏi qua tàng phượng muôn thuở rậm lá, rồi chậm răi la đà ngân nga thật lâu qua mấy đoạn phố quanh trường. Đôi khi, tiếng chuông lại như chơi vơi, vang bổng lên không trung, âm ba vút cao thẳm như đă đưa về chốn tuyệt mù mọi bất an, vướng bận, dâu bể cuộc đời, để chúng sinh tịnh tâm hướng đến chân lư khai sáng tâm linh.

Cảnh quan tổng thể quanh trường luôn như hằn dấu thời gian, lăng đăng âm vọng của lịch sử, nhuốm nét rêu phong, và luôn toát lên sắc mầu hoài niệm. Đôi lần, Thi đă nghĩ, vào những năm đó, có lẽ rất ít nơi trong thành phố có được không gian thi vị, tao nhă, và tịnh yên như khu phố có mấy con đường bao quanh một ngôi trường đẹp như vậy. Các bạn của Thi c̣n đọc được ở đâu đó một bài báo diễn tả khu phố ấy vào thập niên 1960, 1970 luôn bàng bạc sắc thái văn hóa v́ có sự tịnh lạc của chùa Xá Lợi, ngôi chùa truyền thống cổ kính lớn nhất của Sài G̣n, có trường Gia Long với kiến trúc Gothic phảng phất nhiều nét thanh lịch Đông phương, và những con đường ṿng quanh mang tên của các văn nhân uyên bác, tài hoa.

  Không ǵ yên b́nh hơn h́nh ảnh giữa mấy góc đường nhiều bóng mát của các hàng cây cổ thụ là ngôi chùa có phong cách kiến trúc trang nghiêm hiện đại nhưng vẫn giữ nhiều nét cong, đường lượn đặc thù của nghệ thuật điêu khắc truyền thống. Chùa Xá Lợi có tầng lầu, một mô h́nh kiến trúc mới thời ấy của chùa Phật giáo, và được xây như kiểu mẫu tiên phong ở miền Nam. Trong chùa có nhiều tượng phật, đài sen được đúc với họa tiết chạm khắc mỹ thuật, những tấm phù điêu, bức hoành phi, các cuốn thư linh động ḍng cổ tự viết từ thời đă xa xưa. Tháp chuông bát giác 7 tầng, trang trọng uy nghi nhất trong các chùa ở thành phố. Vườn lộc được thiết kế và chăm sóc cẩn thận nên quanh năm tươi mát hoa thơm, lộc biếc, và ríu rít tiếng chim. Chùa Xá Lợi cũng là nơi duy nhất trong nước vẫn lưu giữ pho kinh Pali thiêng liêng rất cổ, một hào quang trí tuệ, được ghi chép trên lá buôn từ mấy thế kỷ trước.

Ngoài vẻ trang nghiêm trầm mặc của ngôi chùa, khu phố luôn có nét thi vị dịu dàng, v́ sự hiện diện của ngôi trường nữ sinh nổi tiếng, cốt cách hoàng cung, mái đỏ tường vàng, hàng sứ trắng miên man thoảng hương, các ṿm cửa sổ lớp học cong cong cẩn đá hai mầu, những tà áo muôn thuở bâng quơ thả gió, gói mây. Khu phố của những hàng cây cổ thụ quanh năm xanh thơm hương nắng, ṛng ră nhiều thập kỷ nhẹ êm tỏa bóng che chở cho bao cô học tṛ vui chơi trước giờ trống điểm vào lớp, và cũng không ít lần ngậm ngùi tiễn đưa họ hănh diện rời trường, mạnh dạn ḥa nhập vào các mạch chảy phức tạp của ḍng đời. Chỉ hàng cây nhiều tuổi biết các cô học tṛ rời trường nhưng vẫn để lại những tâm tư, hoài băo, giấc mơ tuổi hồng, tuổi ngọc đâu đó trên các tán cây sao có ṿm lá đan mây; Và cũng đă thả rơi nhiều nụ thơ nhỏ trên các lối gạch hay băng ghế đá trong sân trường, bao mẩu chuyện ngu ngơ trong sáng, đôi khoảnh khắc gịn cười tươi khóc thơ dại mà mấy gốc phượng già trong sân trường vẫn âm thầm nâng niu cất giữ.

Ở trường học trong những năm tháng đó, nhất là trong những giờ học Việt Văn êm ả, được nghe diễn giải, đề cao nhiều về t́nh người, tư duy về thi ca, lịch sử của đất nước, và văn học dân gian, các cô học tṛ đă nhận ra sự huyền diệu, thâm thúy của tiếng mẹ. Từ ngàn xưa, bắt đầu với một số chữ ít ỏi, nghĩa từ giới han, mà văn nhân thi sĩ đă sáng tạo được bao tác phẩm để truyền đạt lời hay, ư đẹp, nguyên tắc đạo lư, kỹ năng hữu dụng, giá trị nhân bản của xă hội; Giảng dậy về nét đẹp của ngôn ngữ Việt, chuyển tải những câu chuyện mang ư nghĩa giáo dục, những bài học giá trị đến các thế hệ hậu sinh.

Ngày xưa không gian ở mấy blocks đường quanh khu luôn trong trẻo như ḥa điệu cùng tâm tư, cảm xúc của những cô thiếu nữ c̣n ở tuổi chanh cốm. Nhiều người trong nhóm họ đă đi lại trên những con đường đó mà tâm hồn an nhiên, êm ả như được vỗ về trong cảm quan được thấm nhuần phần nào giá trị nghệ thuật của các tác phẩm lớn trong kho tàng thơ văn cổ được học ở lớp. Họ trân quư, biết ơn các thầy, cô giáo, với sự tinh thông hiểu biết và ư nguyện tha thiết phát huy văn học nước nhà, đă tận tâm chỉ dạy các quy luật căn bản về từ vựng và hướng dẫn phương cách dùng ngôn ngữ nghệ thuật khi viết văn, làm thơ. Các bạn và Thi may mắn đă được học với các giáo sư dạy Việt Văn ưu tú và tận tâm như các cô Thân Thị Tố Tâm, Phạm Quỵ (khuê danh: Trần Thị Thương Thương), Hoàng Ngọc Thanh Dung, Nguyễn Thị Dung, Phạm Thị Nhung, trong khoảng thời gian 1962-1968.

Các cô giáo đă tận tụy diễn giảng cặn kẽ và nhiệt tâm gơi ư, khơi mở thêm các hướng nh́n mới về nội dung và giá trị nghệ thuật của nhiều tác phẩm trong chương tŕnh học. Tư tưởng thâm sâu trong sách thường được tŕnh bày từ góc nh́n ở quá khứ, các biến chuyển luân lưu qua thời gian, và sự linh động hài ḥa tiếp nhận những bổ xung hợp lư từ quan điểm thời đại. Và v́ thế, suốt bao năm ở trường, các bài giảng về thơ văn đă rất cuốn hút, đă tác động được sự cảm thức nghệ thuật về ngôn từ, và để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong tâm trí học sinh.

Ngoài ra, nhóm học tṛ nhỏ c̣n được hướng dẫn để thấu hiểu và kính phục không những phẩm chất kẻ sĩ của các văn nhân tài hoa khi họ mạnh dạn lên tiếng bày tỏ ḷng ưu tư về t́nh h́nh thế sự đất nước, về nỗi khổ đau của con người; Mà c̣n yêu mến và ngưỡng mộ cả kiến thức uyên bác của các bậc hiền tài qua các tác phẩm văn, thơ đặc sắc; Nhất là thơ, một h́nh thức nghệ thuật mà ngôn từ được cẩn thận chọn lọc, tinh tế sắp xếp, và điều tiết vần nhịp để diễn đạt tư duy theo cung bậc rung cảm của tâm hồn. Thật phi thường làm sao khi các tác phẩm lớn của chương tŕnh học đă được sáng tác ở giai đoạn ngữ văn Việt c̣n tương đối sơ khai mộc mạc, chưa được phát triển và trau chuốt nhiều.

Diệu kỳ hơn nữa là những tác phẩm này đă vượt qua khuôn khổ thông tin, tiêu khiển, giải trí thời đại, đă được thẩm định giá trị, và được trân trọng bảo tồn, lưu truyền trong văn học sử, v́ nội dung tiềm ẩn phong phú tư tưởng thâm sâu, triết lư cuộc sống, tinh thần giáo hóa, hiện trạng xă hội, văn hóa làm người, được văn nhân tinh lọc truyền gửi đến tha nhân. Thêm vào kiến thức thông tuệ là nghệ thuật tài hoa lựa chọn, xếp đặt từ vựng trong cấu trúc câu thơ, lời văn, để tinh tế đệm thêm thanh âm, nhạc điệu từ nhịp rung nhân ái của tâm hồn tác giả.

Những tác phẩm văn học lớn đă được h́nh thành từ tư tưởng nhân bản, quan điểm b́nh đẳng trong xă hội, tinh thần tỉnh thức trước biến động của thời cuộc hay các thay đổi lớn của môi trường sinh thái, tư duy đồng cảm với nỗi khốn khó, cay cực của tha nhân, phản ảnh khát vọng của con người, lập trường trân trọng nguyên tắc trung thực, và phong cách sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng của tác giả. Tác dụng cộng hưởng của những tố chất trọng yếu này đă đưa giá trị tác phẩm của văn nhân trong chương tŕnh học lên mức vượt thời gian, và thăng hoa lẫy lừng. Các bậc văn tài chân chính măi măi là những v́ sao quư, lấp lánh không bao giờ ngưng tỏa sáng trên thi văn đàn của dân tộc.

Năm đệ Tam của những năm tháng ấy, khi được học về tác phẩm Chinh Phụ Ngâm của danh nhân thi sĩ Đặng Trần Côn, Thi và nhóm bạn đă trải qua nhiều suy tư, khắc khoải, và bị ám ảnh về thân phận hẩm hiu, tầm thường bèo bọt của người phụ nữ, cùng sự tha hóa, lầm than của đất nước thời tao loạn. Các cô học tṛ đă buồn đau, phẫn nộ trước t́nh h́nh thế sự nhiễu nhương của đất nước mà người dân c̣n phải chịu đựng sự điều hành của một triều chính hám quyền, mục rữa.

Nguyên bản Chinh Phụ Ngâm được viết theo thể từ khúc bằng Hán Văn, và được diễn nôm hay dịch sang quốc ngữ bởi nữ sĩ Đoàn Thị Điểm. Cốt truyện chứa chan cảm xúc, dù chỉ là một khúc ngâm (bài văn vần diễn tả tâm sự sầu buồn, đau đớn) tŕnh bày diễn biến tâm trạng và nỗi ḷng của người phụ nữ trẻ trong thời gian phải chờ chồng ra trận giữa thời buổi đất nước cực kỳ xáo động v́ các cuộc nội loạn phi nghĩa. Tuy không có nhiều t́nh tiết hào hứng, sôi nổi của một tập truyện, nhưng t́nh cảnh đau đớn tuyệt vọng của nàng chinh phụ lẻ loi đă thu hút mạnh mẽ sự đồng cảm và ḷng thương xót của các cô học tṛ; Có lẽ một phần v́ chính họ cũng đang cảm nhận bóng h́nh u uất, tàn hoại của chiến tranh phảng phất quanh thành phố Sài G̣n vào khoảng những năm cuối thập niên 1960.

Lớp Thi đă vô cùng say mê trong những giờ học Chinh Phụ Ngâm. Các cô học tṛ vẫn nhớ những lời giảng của cô Nguyễn Thị Dung là, thi phẩm đặc sắc này không chỉ phong phú về t́nh tiết, sống động với các khắc họa sắc nét về bối cảnh xă hội loạn lạc, tinh tế trong ngôn từ diễn đạt tâm tư người phụ nữ, thẳng thắn trong lập trường chán ghét t́nh thế tham ô nhiễu loạn; Mà dựa theo văn phong tài hoa, mượt mà, giàu biểu cảm, của bản chuyển ngữ Chinh Phụ Ngâm xuất sắc của nữ sĩ Hồng Hà, c̣n là một thành quả hoàn hảo, minh chứng sự thành công trong cách sử dụng tài t́nh thể thơ song thất lục bát nhiều nhạc điệu êm ái đặc thù của dân tộc. Thêm vào đó, trong Chinh Phụ Ngâm, nghệ thuật gieo vần cũng như sự lựa chọn từ ngữ, điển tích vô cùng tài t́nh, độc đáo, hiếm tác phẩm nào khác có thể sánh bằng [3].

Hơn 250 năm đă qua mà các học giả, thi nhân vẫn chưa dừng suy tưởng, t́m ṭi các ư hướng nhận định khác hơn vể tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, vẫn tiếp tục phát hiện thêm t́nh tiết mới từ nội dung sâu sắc của khúc ngâm thảm sầu năo ruột đó; Và các vị có thẩm quyền vẫn loay hoay t́m kiếm phương cách xét định công minh hơn về giá trị nghệ thuật, văn hóa của tác phẩm; Những câu thơ chất ngất nỗi đau đớn như:

Non ḱ quạnh quẽ trǎng treo
Bến Ph́ gió thổi đ́u hiu mấy g̣
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trǎng dơi dơi soi
Chinh phu, tử sĩ mấy người.
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn?


đă đi vào tâm khảm các cô học tṛ. Họ không thể quên được v́ những h́nh ảnh tột cùng bi thảm đă làm chấn động tinh thần yếu đuối của họ. Có lẽ v́ thế mà sau khi rời trường, và dù chưa bao giờ dành nhiều thời giờ để nghĩ ngợi hay hồi tưởng lại toàn cảnh những giờ học ch́m trong tâm trạng xót thương nàng chinh phụ bất hạnh. Nhưng những lời b́nh sắc bén thuyết phục, câu giảng cặn kẽ thông suốt của thầy cô về ư tưởng của các đọan thơ cốt lơi, hoặc âm giọng thổn thức diễn ngâm lời t́nh tự ai oán của người chinh phụ ... từ lớp học năm xưa, đôi lần đă âm thầm vang lại trong tiềm thức, ngân nga ám ảnh Thi. Tâm trạng tột cùng buồn bă, mệt mỏi, chán chường từ thuở non dại ấy cũng trở về, nhưng ư tưởng của nhiều câu thơ, nghe từ ngày xưa, khi vọng về lại như sâu vợi, năo nùng, và thê thảm hơn.

Kiệt tác cổ thi Chinh Phụ Ngâm được đánh giá là một đóng góp kỳ vỹ cho văn học sử đất nước dựa trên bút pháp giàu nét sáng tạo, xuất sắc của nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ và nội dung đậm chất vị nhân sinh, ư tưởng đề cao khát vọng chân chính của con người, tác động quyền được sống trong hạnh phúc lứa đôi, lên án chiến tranh phi nghĩa, và phát huy ư thức sống nhân đạo.

Ngoài ra, có lẽ v́ tầm vóc nhân văn và nghệ thuật, tác phẩm đă được dịch ra Nhật ngữ, Anh ngữ, và Pháp ngữ, ngoài bản chính bằng Hán ngữ và bản diễn ngâm chữ Nôm của nữ sĩ Hồng Hà Đoàn Thị Điểm.
 


Tuổi Hồng Sài G̣n
 

          Các bạn Thủy, Th́n, Vinh và Thi như lớn hẳn lên sau khi đỗ bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Trước ngày nhập học bậc Đệ Nhị Cấp, học tṛ được giáo sư hướng dẫn tư vấn chọn ngành chuyên môn để được học nhiều giờ và chuyên sâu hơn về: Khoa Học Thực Dụng (ban A), hoặc Toán Lư Hóa (ban B), hay Văn Chương Triết Học (ban C). Vinh và Thi chọn học ban A trong khi Thủy và Th́n đă chọn ban B. Tuy không được học cùng lớp nữa nhưng cả bọn vẫn rủ nhau cùng đi, về trên đường đi học hàng ngày và hay tụ tập chuyện tṛ vào các giờ ra chơi.

Sự giảng dạy ở những lớp học trong chương tŕnh Trung Hoc Đệ Nhị Cấp vẫn tiếp tục theo các mẫu mực truyền thống, vẫn giữ khuôn khổ trọng nghĩa, kính thầy, yêu bạn, bảo tồn, và phát huy văn hóa dân tộc. Ngoài ra, một số giáo sư dậy các môn có các chủ đề liên quan đến nhân văn, xă hội như Việt Văn, Sử Địa, Triết Học, và Ngoại Ngữ c̣n thường xuyên hướng dẫn và khuyến khích học tṛ tin tưởng vào quan điểm b́nh đẳng nam nữ, vào tiềm năng vô giới hạn của con người trong cuộc sống. Do đó, nữ sinh luôn được khuyên phải cố gắng học hành chăm chỉ, phải tốt nghiệp, vào đại học chuyên ngành để có thể trở thành các chuyên viên hữu dụng, thành đạt, có sự nghiệp, và làm việc để tự lập về kinh tế và có ích cho cộng đồng xă hội. 

 

  Thỉnh thoảng các cô giáo dậy Việt Văn lớp Thi c̣n thân t́nh bâng quơ nhắn nhủ: không nên yêu đương, đỏm dáng sớm, tránh phí hoài tuổi c̣n được đi học. Cô Nhung có lần từng nghiêm trang bảo cả lớp, nửa đùa nửa thật, là phải bớt mơ mộng bắng nhắng kiểu cô bé đi chùa Hương của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, mà nên nhân hậu, nhịn nhục làm cô Tấm thảo hiền, hay cô Liên chịu khó, đảm đang trong tiểu thuyết Gánh Hàng Hoa [4]. Những câu dặn ḍ xuất phát từ sự quan tâm thương yêu thật ḷng của thầy với tṛ, sau này khi đă trưởng thành, lần nào nhắc lại, bọn Thi vẫn nao ḷng, cay mắt. Có lần về thăm trường, đi ngang lớp học xưa, Thi bồi hồi tưởng đă nh́n thấy vạt nắng vàng lung linh rất đẹp, mang túy hương đất trời, lạc qua khung cửa lớp, lấp lánh như môt phiến pha lê phản chiếu bao kư ức của chuỗi ngày nồng ấm thầy, tṛ c̣n đọng ghi trên thềm gạch màu lựu chín quanh nơi bục giảng của cô giáo. H́nh ảnh, sắc màu lớp học ở các giờ dậy của từng thầy, từng cô giáo ngày xưa, cứ tŕu mến nối nhau hiện lên tấm pha lê như một cuốn phim chiếu thật chậm. Thi đă nh́n thấy bóng Vinh thút thít, v́ bị mắng, khi lỡ tay đóng hơi mạnh cánh cửa sổ lớp trong một giờ học, và nhân đấy, cô Dung đă dịu dàng dậy, học tṛ phải đóng cửa như thế nào mới được xem là cách hành xử chấp nhận được của một cô gái biết ư tứ. Cô Dung đă luôn dặn học tṛ c̣n phải ăn nói nhỏ nhẹ, đi đứng khoan thai, làm việc cẩn thận chu đáo, và cô đă kết luận bài giảng bằng mấy câu ca dao:


Ra đường nghiêng nón nhẹ cười
Như hoa mới nở, như người trong tranh.


hoặc:


Trăng rằm mười sáu trăng nghiêng
Thương em chúm chím cười duyên một ḿnh


… để măi thùy mị làm những nàng thơ đẹp:


Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,
lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài….


(Áo Trắng, Huy Cận).


hoặc:


Em về tà áo lụa
bay ngập ngừng trong anh


(Thu ở Xa Người, Kim Tuấn)

Đôi khi Cô Dung c̣n đọc thơ của thi sĩ Huy Cận như khuyến khích, cổ vũ ư tưởng dấn thân v́ quê hương đất nước:


Chị em tôi tỏa nắng vàng lịch sử
Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ.


(Ca Ngợi Người Phụ Nữ Việt Nam, Huy Cận”

  Cô Nhung đă luôn nhắc nhở là mai sau khi lớn lên, dù có phải chịu nhiều chi phối khó khăn của cuộc sống hay các tác động nghiệt ngă của xă hội và hoàn cảnh, th́ học tṛ của cô bao giờ cũng nên điềm tĩnh nhẫn nhục, cố gắng nhường nhịn, vị tha, v́ vai tṛ quan trọng của phụ nữ vẫn luôn là người giữ lửa của mái ấm gia đ́nh, và gia đ́nh có ấm êm th́ xă hội mới an lạc, hạnh phúc được.

Đi trên hành lang ngoài hiên lớp một ḿnh, mà Thi có cảm tưởng mấy trang vở học tṛ chép những ḍng thơ cổ đang nhẹ nhàng bay ra từ cửa lớp học xưa, chao lượn quanh quẩn trước mặt nàng. Mắt mờ đi v́ xúc động, Thi bâng khuâng tự hỏi không biết những cánh thơ tuyệt tác đang thăng hoa bay bổng hay hồn người muôn năm cũ dật dờ mê mải theo khúc ru t́nh không thể dừng yên được? Hành lang không sương khói mờ nhân ảnh mà sao tâm Thi nặng tràn những ngậm ngùi buồn vui chuyện nhân gian, những bạn bè thân ái thuở nào bây giờ đang ở phương nào?

Những thầy cô khác, dù dạy các môn khoa học khô khan như Toán, Lư, Hóa hay Vạn Vật, cũng thường xuyên dành đôi ba phút ngẫu nhiên trong giờ học để chia sẻ thân t́nh với hoc tṛ các thông tin về t́nh h́nh chiến sự, các nhận định trước vài biến chuyển sôi động trong sinh hoạt xă hội, hoặc những lời tâm sự chuyện tṛ vui vẻ để giảm bớt sự xa cách với học sinh.

Cô giáo hướng dẫn lớp luôn ân cần chia sẻ, thăm hỏi, khuyên nhủ, và giúp đỡ tổ chức dạy kèm để luyện thi, cổ vũ quyên góp tương trợ những học tṛ nghèo hay không may mắn bị đẩy vào t́nh cảnh khó khăn. Thỉnh thoảng các cô c̣n có những câu nhắc nhở nghiêm túc như của các bà mẹ khó tính răn dậy con gái đang tuổi lớn, mà có bạn tinh nghịch đùa là “cô đang giảng dậy morale cho đàn vịt trời”. T́nh thầy tṛ luôn chan ḥa, thắm thiết, nhiều bao dung cảm thông.

Sự quan tâm, chăm chút, vun vén cho học tṛ xuất phát từ tâm hồn, bản chất khai phá của các nhà giáo tâm huyết, yêu nghề, tập trung chu toàn trách nhiệm giáo huấn bằng những nguyên tắc sư phạm đặt trọng tâm trên nền tảng nhân bản mà họ từng được đào tạo. Thầy cô vào lớp không chỉ dậy kiến thức mà c̣n truyền đạt sự lịch lăm, cách đối nhân xử thế trong sinh hoạt cuộc sống. Những giáo sự dạy Việt Văn, Sử Địa c̣n luôn khích lệ tinh thần ngưỡng mộ và bảo tồn tinh hoa ngôn ngữ Việt, tích cực đề cao niềm tự hào dân tộc, và khơi động t́nh yêu quê hương đất nước.

Xuyên suốt những năm Trung Học êm ả ở trường, Thi và các bạn đă được trau dồi kiến thức để không những có căn bản vững vàng trong các môn học quan trọng trong chương tŕnh, có được sự chuẩn bị kỹ lưỡng cho các kỳ thi lấy bằng cấp tốt nghiệp, mà c̣n được khuyến khích để nuôi dưỡng những giấc mơ, những kỳ vọng được học chuyên ngành ở đại học, để có thể trở thành những người thành công, hữu ích. Vào những năm phải thi lấy bằng như Trung học Đệ Nhất Cấp, Tú Tài 1, Tú Tài 2 th́ sự dậy dỗ, hướng dẫn càng chuyên sâu, cặn kẽ thêm bội phần. Những bạn yếu kém sức học được quan tâm, theo dơi, và kèm dậy kỹ lưỡng hơn. Điều cao quư là các thầy, cô đến lớp hướng dẫn ôn thi hoàn toàn tự nguyện, nhưng đă luôn hết ḷng chỉ dạy v́ muốn học tṛ thấu đáo bài vở, thi đỗ, lên lớp, thành đạt trong xă hội.

Ngoài ra, các cô học tṛ c̣n được uốn nắn để làm người có đức hạnh, tôn trọng kỷ luật, chấp nhận khác biệt quan điểm cá nhân, và sống có trách nhiệm với cộng đồng, xă hội. Những nguyên tắc làm người tử tế, ngoài phần lư thuyết sơ lược được dạy trong vài lớp học khi mới vào trường, đă được cảm thụ gián tiếp qua h́nh ảnh đức độ, thái độ ḥa ái, phong cách khiêm tốn, mẫu mực hành xử, và nguyên tắc công bằng của thầy cô khi họ lên bục giảng hay trong khuôn viên trường.

Thầy cô ngày ấy được nể trọng gần ngang hàng như cha mẹ, nên phần lớn học tṛ đều ngoan ngoăn thực hành những điều được giảng dạy hay cố gắng tập luyện để có được phong cách từ tốn, điềm đạm mà họ nh́n thấy qua khuôn mẫu ứng xử đẹp, tao nhă, chân thực của thầy cô ở trường.

Chương tŕnh giáo dục nhân bản, với ư hướng bảo bọc, độ lượng, hướng thiện, đă uốn dạy, chăm chút những cô thiếu nữ trẻ rất cẩn thận, giúp họ tự nhiên phát triển thành những người tốt hay, diễn tả theo tinh thần Gia Long là, những nụ mai ngát hương, loại hoa biểu tượng của trường và cũng là h́nh tượng cao quư quen thuộc trong thi ca; V́ hoa mai tượng trưng cho sự kiên tŕ, manh mẽ, can đảm vượt qua mọi khó khăn, ngoài vẻ đẹp rực rỡ, lâu tàn.


Bỗng chốc, Thi nhớ lại những ngày xưa êm đềm của tuổi thiếu nữ vô tư. Quăng thời gian hồn nhiên, ngu ngơ nh́n đâu trên khuôn viên trường cũng chỉ thấy những tà áo bạn bè tung bay dịu dàng, vai mềm dáng lụa, những mái tóc đen khi nghịch ngợm kẹp bím cao, khi nhu ḿ buông xơa, vành nón nghiêng che e ấp. Tất cả chỉ là những h́nh ảnh nhẹ nhàng giản dị thường ngày trên các lối gạch trên đường Đoàn Thị Điểm hay Bà Huyện Thanh Quan, b́nh thường như chiếc lá rơi, nụ hoa nở, tiếng chim hót, nắng vàng vương đâu đó trên con đường thỉnh thoảng có bóng phụ huynh qua lại, mà sao các lối đường dưới những ṿm cây quanh trường luôn đẹp vô cùng.

Giờ tan học, phố ngợp trắng những tà áo nhẹ bay, nh́n như đàn bướm chập chờn trong vũ khúc của mùa hoa trung du. Hoặc theo Thiên Hương, cô bạn người Huế của Thi, th́ đó là h́nh ảnh ngày hội hoa đỗ quyên, v́ đàn bướm tinh khôi đó nh́n không khác những bông hoa đỗ quyên mong manh, bạt ngàn nối nhau từng thảm nằm quanh các thác nước rất đẹp trên triền đồi vùng núi Bạch Mă [5], ngoại ô thành phố Huế, quê ngoại của Thiên Hương. Dáng h́nh mảnh mai, tà áo dịu dàng, chiếc nón bài thơ, nụ cười trong sáng của các cô nữ sinh Sài G̣n thuở nào đă được các văn nhân, họa sĩ đă diễn tả trong một số tác phẩm vẫn c̣n được yêu mến, lưu truyền nhiều năm qua như Áo Lụa Hà Đông (Nguyên Sa-Ngô Thụy Miên), Cô Nữ Sinh Gia Long (Nguyễn Văn Đông (Phượng Linh)), Tà Áo Gia Long (Trần Quư Tường), Áo Trắng (Huy Cận – Hoàng Thanh Tâm) hay những bức tranh thiếu nữ nhu ḿ của cố họa sĩ Đinh Cường.

Các cô nữ sinh c̣n rất linh hoạt, nhạy bén thích ứng cùng các chuyển biến của thiên nhiên, thời tiết, hay phong cách trang trọng của các lễ hội truyền thống. Không những thần thái hay biểu cảm thay đổi buồn, vui trên nét mặt mỗi khi Sài G̣n ẩm ương nắng mưa bất chợt, họ cũng biết tinh tế điểm thêm phụ kiện vào trang phục hay diện khoe áo mới mang hoa văn phản ảnh sắc thái của những khung thời gian đặc biệt trong năm học, và làm các thay đổi sinh động của cuộc sống thêm rơ nét hoặc có chiều sâu hơn; giúp cảnh quan nơi họ xuất hiện được rực rỡ tươi vui, trữ t́nh lăng mạn, hay bâng khuâng hoài niệm.
 

 

Những ngày tuổi hồng ấy …
 

          Mùa thu nhập học, mắt họ lóng lánh đôi hạt nhăn c̣n no tṛn vị ngọt mọng chin của mùa hạ sum suê cây trái trong bao buổi rong chơi các miệt vườn quê trù phú ở miền Nam. Về lại trường, gặp bạn, những tà áo mang sắc mây đượm nắng đồng nội bay múa như đàn bướm reo vui giữa vườn hoa thơm lừng hương mật. Không chỉ tà áo mà mái tóc họ cũng bay lượn nhẹ nhàng thoải mái vui vẻ chào mùa khai trường rộn ră tiếng chim sẻ đánh chuyền trên những tán cây sao.

Những ngày cuối năm, nắng hanh vu vơ, tiết trời se mát, con đường dẫn đến trường lác đác những chiếc áo len đẹp thanh nhă với hàng khuy to sẫm mầu luôn được cài kín để che bớt hơi lạnh của gió mùa vờn thối hai tà áo mong manh. Những mái tóc đen tuổi 17, 18 được để dài hơn, thả trôi óng mượt trên bờ vai áo len thường chỉ mầu xanh dương, trứng sáo sẫm, hay sim tím, v́ trường có quy định không được mặc áo len hoặc mang bando trên tóc mầu tươi, chói.

Có lần vào dịp gần Tết, khi đang học đệ Nhất, Thi nài nỉ mượn mẹ chiếc khăn san mầu tím đỏ của lá bàng mùa Thu, kỷ vật mẹ đem từ Hà Nội, rồi quàng quanh cổ áo dài trắng, xênh xang đi học, và được cô giám thị Hưởn [6] duyệt cho qua cổng b́nh thường. Hôm ấy, Thi đă vô cùng hănh diện và thích thú khi được các bạn bao quanh ngắm nh́n, hỏi han, hít hà dải len mềm mại, mân mê xem xét v́ khăn quàng cổ dùng vào mùa lạnh ở quê Thi, rất hiếm khi được nh́n thấy trên đường phố Sài G̣n. Chiếc khăn ấm áp hương phố Ngơ Trạm ngày xưa được mấy ngày chuyền vai các cô bạn, bay lượn no gió Sài G̣n, và tha thẩn khắp nơi trong sân trường.

Qua Tết, mùa Xuân vẫn rực rỡ nắng vàng, nhiều cô bạn có thêm áo mới, đôi tà lụa lấm tấm hoa văn nổi nhẹ các chữ phúc, nhẫn hay vài đóa mai, lan nhỏ xinh mang nét truyền thống an lạc của ngày đầu năm. Tà áo họ tung tăng rải lộc Xuân khắp sân trường. Nỗi vui được mặc áo mới làm các cô xinh đẹp hẳn lên, má đỏ, môi hồng hàm tiếu chúm chím cười nói trong các tà áo xuân khuê các. Khoác áo mới nên họ cũng tự giác ư tứ hơn, bớt chanh chua ồn ào tranh căi với bạn, hơi ra dáng các cô tiểu thư trâm anh nho nhỏ.

Mùa thi về khi ṿm phượng đỏ rực sân sau trường. Những tà áo luôn tựu quanh gốc phượng lác đác sắc tím úa của hoa đă héo khô hoặc ở các băng đá, muôn thuở chỉ lặng yên, nhẫn nại nghe họ ôn bài. Ai cũng bộn bề lo toan bài vở để chuẩn bị thi cử. Thời gian này, mái tóc óng ả của các cô học tṛ thường được kẹp cao hay thắt bím gọn gàng, nét mặt ai cũng đăm chiêu tập trung, những đôi mắt trong veo thoáng gợn vài tia xám lo âu, sợ hăi. Họ ngồi từng nhóm, ít cười, chỉ sôi nổi bàn luận bài vở hay cùng nhau giải các bài toán khó. Tiếng ve sầu râm ran khắp sân trường. Mọi người đều chăm chỉ, cần mẫn, cố gắng để có thể vượt qua các kỳ thi. Tuy vậy, thẳm sâu trong ḷng, họ luôn ngơ ngẩn bâng khuâng khi nghĩ đên ngày phải tan tác rời trường sau năm cuối của bậc trung học.

Một cách gián tiếp, sự sinh hoạt tự nhiên vô tư của nữ sinh Sài G̣n ngày đó đă góp phần giúp các sáng tác văn chương và âm nhac về tuổi học tṛ thi vị lăng mạn hơn. Họ đă dự phần vào việc giúp đưa cảm xúc, sự rung động của văn nhân lên mức cao hơn, giúp cuộc sống bớt căng thẳng, bớt lo toan thực dụng, dịu bớt những khó khăn, ám ảnh của cuộc chiến đang ngày một căng thẳng, dữ dội, tàn hoại hơn.

Được chăm chút rèn luyện cẩn thận những năm trung học ở trường là một may mắn lớn cho cả quăng đường học vấn của Thi sau này. Thêm vào đó, sự giáo dục quy củ cùng kỷ luật nghiêm ngặt của trường đă giúp phát triển trong Thi các hiểu biết căn bản về nguyên lư làm người tử tế, đức hạnh, trung thực trong xă hội; và cũng đă hun đúc sự h́nh thành của những ư thức sơ khai về trách nhiệm của cá nhân trong cuộc sống cộng đồng có tinh thần dân tộc cao.

Tất cả mọi nỗ lực của ban giám hiệu và các giáo sư đều hướng đến sự đào tạo học sinh có kiến thức văn hóa vững vàng và hiểu biết về nền tảng đạo đức căn bản. Sau này, Thi nhận ra, mỗi khi phải trực diện các t́nh huống khó khăn, bi quan, tuyệt vọng, Thi đă không ít lần t́m được sự b́nh tâm, an nhiên khi nhớ đến những lời giáo huấn làm người phải có đức trung thực, có tâm vị tha, và luôn yêu thương cuộc đời, những nguyên lư đă được hướng dẫn từ thuở c̣n thơ dại dưới mái trường cũ năm xưa, và đă biết nhẫn nại chịu đựng để vượt qua những khúc quanh phức tạp của cuộc sống.

Thêm vào đó, truyền thống tích cực tham gia và hào phóng đóng góp của trường trong các hoạt động từ thiện dưới các h́nh thức tương trợ, lạc quyên đă hướng dẫn học sinh quan tâm, mở ḷng với trẻ côi, người khó; khích lệ họ trực tiếp dự phần trong các chương tŕnh lạc quyên để cứu trợ nạn nhân bị băo lụt, thiên tai; và thôi thúc sự chủ động của học sinh trong các cuộc gây quỹ đi thăm, tặng quà trẻ em ở các cô nhi viện, viết thư ủy lạo hay gửi quà chúc Tết ra tặng các anh chiến binh đang đóng ở tiền tuyến. Thi và các bạn đă được dạy dỗ dưới một nền giáo dục không chỉ đề cao sự phát triển kiến thức khoa học mà c̣n chú tâm phát huy niềm tự hào với lịch sử kiêu hùng của dân tộc, di sản văn học uyên thâm lẫy lừng của đất nước, và lan tỏa tinh thần nhân văn, bác ái; Trân trọng nguyên tắc sống làm người tử tế.

Ngoài những khuôn thước giáo dục nhân bản, các truyền đạt về kiến thức khoa học, những hướng dẫn về đạo lư làm người rất quư giá; Các bạn và Thi đă trải qua những năm tháng thi vị, trong sáng, hồn nhiên của một thế hệ học sinh, sinh viên ở miền Nam dù trong những năm ấy, chiến tranh luôn u ám đâu đó ở các vùng xa thành phố Sài G̣n. Ngoài những giây phút chăm chỉ học tập, thi cử, tinh thần học sinh đă được bay nhảy thú vị trong những kết hợp của thơ nhạc Nguyên Sa - Ngô Thụy Miên, Phạm Duy - Nhất Tuấn, Phạm Duy - Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên – Phạm Duy, hay thơ nhạc của Nguyễn Đ́nh Toàn.

 

Giă Từ Tuổi Mơ Trăng
 

Thi rời đất nước ngay sau khi tốt nghiệp Trung học với hai bằng Tú Tài. Lần cuối trở lại trường là để tham dự lễ hội gắn hoa mai vàng, buổi lễ long trọng nhất của mỗi năm học, luôn có sự tham dự của một, hai yếu nhân từ bộ giáo dục, ngoài ban giám hiệu, giáo sư, phụ huynh được mời, và học sinh được nhận huy chương hoa mai vàng xinh xắn, thiết kế rất mỹ thuật để có thể dùng như mặt trang sức của dây chuyền, món quà mang ư nghĩa cao quư của trường.

Sau đó, tuần lễ cuối trước ngày đi, Thi đă đi lại trên khu phố quanh trường nhiều lần với Thủy. Thả bộ như đă từng đi học thời chưa phải rời trường. Vẫn đang c̣n mùa Hạ nên cổng trường luôn đóng. Dù mọi góc đường rất tĩnh yên vào ngày không có bóng dáng học tṛ hay khi huyên náo tiếng cười nói trước giờ vào học hoặc lúc ̣a vỡ vui nhộn tan trường th́ Thủy và Thi đều luôn cảm thấy không gian quanh đấy vô cùng b́nh yên, không bao giờ phải bận tâm bất cứ điều ǵ, chỉ vô tư rủ rỉ tṛ chuyện cười đùa với nhau. Vậy mà buổi chiều cuối được đi trên lối gạch ngập lá khô dưới nắng Hạ mênh mang, cả hai đă khóc v́ bồi hồi nhớ tiếc bao mùa mưa nắng đă qua, thấm thía cảm nhận đă thật sự vĩnh viễn phải rời xa khu vườn b́nh yên hạnh phúc. Xa hẳn bao ngày êm đẹp đậm nghĩa t́nh thầy tṛ tương kính, những yêu thương mơ hồ trói buộc. Nơi mà thầy và bạn như đă là người thân của Thủy và Thi từ nhiều kiếp trước. Làm sao đàn chim non vừa ra ràng như Thủy, Thi và bao bạn cùng lớp có thể dang cánh tự bay đi một ḿnh, thật xa, ĺa bỏ hẳn mái tổ ấm êm, nơi thầy cô, bạn bè đă chắt chiu chia sẻ nhiều năm tháng hạnh phúc.

Thủy và Thi đi qua từng đoạn phố đầy nắng vàng, nh́n hàng cây mướt xanh, những ṿm phượng đỏ, mấy chiếc ghế đá dăi dầu năm tháng, và sau bờ rào sân trường vẫn miên man tiếng chim. Thiên nhiên trong đấy đẹp như một vườn hoa ngọt ngào, thanh thoát hương tràm những ngày đầu tiên vô tư vào trường. Qua rồi thuở chỉ biết tung tăng dạo chơi, hiếu kỳ khám phá, và đùa vui cùng bạn. Khu vườn ngập nắng thủy tinh. Trong veo. Nhớ tà áo lụa thơm tay mẹ chọn, chiếc nón quai nơ tím, sách vở nồng nàn hương giấy, đôi guốc quai nhung gót sen, ánh mắt cha mẹ tŕu mến dơi theo, bao ăm ắp yêu thương đưa các cô nhỏ tự tin đến trường. Họ đă học nói, học cư xử, học lễ, học văn; Học yêu trường, thương bạn, quư mến thầy cô; và học tương trợ giúp đỡ người khó, trẻ côi. Thời gian êm ả trôi, Thi và các bạn lớn dần lên, và được dậy phải trân trọng thiên nhiên, ngưỡng mộ cái đẹp, yêu quư mọi thiện lành của cuộc sống, thực hành lễ nghỉa nhân bản, ǵn giữ đạo lư của đất của trời, và được nhắc nhở phải luôn làm người ḥa đồng, hiểu chuyện, tử tế.

  Thầm lặng sát cánh cùng học tṛ, thầy cô luôn tận tụy, không bao giờ ngơi nghỉ dẫn dắt, tận t́nh chỉ bảo. Những bài học giàu tính nhân văn. Những giờ Việt Văn như cháy bỏng bục giảng. Có cô giáo yêu nghề, say mê tiếng mẹ, yêu thích văn chương Việt, đắm đuối ngâm thơ, rút tằm nhả văn, thổi hồn vào bao ḍng thơ cổ, làm bông bênh chao đảo đất trời. Với cô giáo, trường lớp là mái nhà ấm cúng có vườn hoa thơm hương, học tṛ là con, là em, là những nụ mai chúm chím hé nở, là những vầng nguyệt non lung linh để cô nâng niu, chăm chút thành các nàng thơ trong khu vườn vô lượng hạnh phúc. Ngời ngời nghĩa t́nh thầy tṛ, thắm thiết nỗi bạn đậm sâu.

T́nh yêu thiên nhiên, trường lớp, bạn bè, thầy cô giúp khai mở sự rung động nhạy bén của trái tim, mạch giao cảm kỳ diệu của tâm hồn bắt đầu miên man giai điệu ḥa đồng cùng sinh hoạt cuộc sống quanh các cô thiếu nữ đang tuổi lớn. Mọi người dễ nhạy cảm trước các thực trạng không hoàn hảo, những bất hạnh đáng thương. Họ biết sống ư thức hơn, để ư quan tâm, và sẵn sàng giúp đỡ người khác. Sự ngưỡng mộ thầy cô và t́nh thân bạn bè cũng thêm sâu đậm mạnh mẽ, họ ghi những câu tạ ơn thầy, khen ngợi bạn trên những chiếc lá tràm mong manh rơi trên sân trường, bày tỏ tinh thần tôn sư trọng đạo, tán dương mọi đóng góp hữu ích cho cộng đồng. Những chiếc lá như chiếc thuyền tuổi thơ cong cong, mải miết lướt sông, men tiếng ru êm ái của thầy, đưa bao giấc mơ nhỏ đến những chân trời lấp lánh nhiều sắc mầu hy vọng.

Nhớ nao ḷng hàng tràm nhẹ nhàng thả rơi những chiếc lá khô c̣n vương ít vân diệp lục, lối vào hành lang lớp học mướt mát xanh, đâu đâu cũng thoảng hương dầu tràm pha giọt nắng trưa. Những chiếc là tràm bâng quơ ḍng thơ đẹp quay tṛn trong không gian ngày sân trường trở gió. Nắng sóng sánh ngọt ngào mầu mật vàng. Gió xoay chiều dồn thổi lá bay như mưa, rào rạt tươi mát, cuốn trôi bao vất vả những trưa hè đầu mùa thi. Thơ nhạc miên man vỗ cánh bay trong khuôn viên trường. Đàn sẻ trên ṿm phượng già chập chững bước múa xoan. Nắng thu se sắt bao nỗi nhớ, lá vàng lao xao hè gạch vẫn đùa nghich những bước guốc qua. Vẫn c̣n vương đâu đó trên các lối đi, lành lang, ghế đá sân trường vài đôi mắt bạn buồn bă rời trường vào đời mưu sinh sau mấy ngày Tết binh lửa thê thảm năm xưa.

Bao mùa mưa nắng theo nhau đi qua khu vườn. Vô cùng b́nh yên. Đường đời mở thêm muôn nẻo vợi xa. Những cô học tṛ rời trường, dâu bể cuộc đời đưa đẩy từng người bị mất dần những người bạn một thời vô cùng khắng khít, đă từng sẻ chia thân thiết như tri âm. Làm sao có thể lội ngược ḍng thời gian, về lại vườn hoa cũ để sống như những ngày đùa nghịch với lá tràm năm xưa. Chỉ c̣n chút hồi ức làm cay mờ khóe mắt. Vườn mai ngày nào có cỗi đi, hàng tràm xơ xác không c̣n nhiều lá, xin nắng vẫn măi mong manh trên sân trường để cơi xưa không bao giờ hiu quạnh, v́ thầy bạn cũ thỉnh thoảng vẫn về qua chốn ấy.


Vũ Thị Ngọc Thư
Tháng 8, 2023

 

_________________


Chú Thích:


Nắng Thu Mầu Nhớ là bài thứ 3 trong Chùm Tạp Bút Những Giờ Ra Chơi gồm ba bài viết của tác giả:

Bài 1: Hạt Mưa Kư Ức
Bài 2: Hoa Nắng
Bài 3: Nắng Thu, Mầu Nhớ


[1] Ca khúc Tuổi Hồng, Tuổi Ngọc, và Tuổi Thần Tiên được nhạc sĩ Phạm Duy viết để xưng tụng độ lứa tuổi tuyệt vời của các cô nữ sinh đang th́ chanh cốm.
https://phamduy.com/vi/viet-ve-pham-duy/phe-binh/5874-ca-tu-trong-tuoi-hong-tuoi-ngoc-tuoi-mong-mo-cua-pham-duy

[2] Kiến Trúc và Gác Chuông Chùa Xá Lợi, Sài G̣n

http://chuaxaloi.vn/

https://vi.wikipedia.org/wiki/Chùa_Xá_Lợi

[3] Du Yên, Tiếng Nước Tôi, Tiền Lê xuất bản, 2009.

[4] Khái Hưng và Nhất Linh, Tiểu thuyết Gánh Hàng Hoa, Nhà XB Đời Nay, 1934. Tập tiểu thuyết viết chung của Khái Hưng và Nhất Linh, đă đăng dài kỳ trên báo Phong hóa, từ số 66 (ngày 29-9-1933) đến số 88 (ngày 9-3-1934). Xuất bản lần đầu năm 1934. Tác phẩm mang đậm màu sắc lăng mạn với câu chuyện t́nh cao thượng của ba người bạn trẻ Minh, Liên và Văn nơi trại Hàng Hoa ven đô Hà Nội. Gánh Hàng Hoa được xem là tập truyện tiên phong chủ trương cổ vũ, khuyến khích sự yêu đời, ham sống của thanh niên.

[5] Vườn Đỗ Quyên ở Huế:

https://vi.wikipedia.org/wiki/Vườn_quốc_gia_Bạch_Mă

[6] Cô Kha Thị Huởn làm Giám Thị trường Gia Long rất nhiều năm trong thập kỷ 1960 và 1970.

 

 

art2all.net